"Văn mẫu" cần hay không? Cần theo hướng nào?


Câu chuyện giáo viên bắt học sinh học thuộc "văn mẫu" có nhiều tranh luận. Tất nhiên đó là việc làm rất sai của giáo viên khi dạy Tập làm văn. Có nên loại trừ "Văn mẫu" trong dạy học hay không? Cảm ơn GS. Lê Phương Nga gửi đến bài viết của thầy Võ Trọng Đông rất kịp thời.

HIỂU ĐÚNG VỀ “MẪU” VÀ VAI TRÒ CỦA “MẪU”

TRONG DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

                                                                                    Vũ Trọng Đông, ĐH Thủ Dầu Một

 

Sử dụng văn mẫu hay không trong việc dạy Tập làm văn cho học sinh tiểu học hiện nay đang gây nhiều tranh cãi. Có cần thiết có văn mẫu hay không? Hiểu về "mẫu" thế nào cho đúng? Tạo ra "mẫu" trong dạy học Tập làm văn bằng cách nào? Là những vấn đề mà bài viết mong muốn hướng đến.

  1. Đặt vấn đề

Những năm gần đây, trên các diễn đàn xã hội, trên internet, trên các trang báo, lâu lâu người ta lại xôn xao về một bài làm văn ngoài tưởng tượng của học sinh (HS). Đó có thể là bài văn giáo viên (GV) yêu cầu “Hãy tả cảnh trường em 10 năm sau”, một HS đã tả “cổng trường đổ sập, tất cả đổ sập vì bị sóng thần. Mọi thứ trở về cát bụi. Không còn gì để tả”; đó có thể là bài văn tả một loài cây, loài hoa mà em biết, HS đã tả hoa cứt lợn với cách viết hồn nhiên đáng sợ “Loài hoa em thích là hoa cứt lợn, nó còn có tên là hoa ngũ sắc nhưng em gọi nó là hoa cứt lợn cho nó máu….”. hay bài văn tả bạn với những câu chữ hết sức ngô nghê "Em có một con bạn ngồi kế bên bàn học, cũng chẳng thân lắm nhưng em thấy thích nó lắm. Nó có một mái tóc, hai con mắt, một cái mũi, nhưng cái mũi có hai cái lỗ mũi, cái miệng có cái răng nanh chìa ra, người ta bảo là răng khểnh. …” Mỗi lần như vậy, người ta lại đặt vấn đề về việc chúng ta đang dạy cho HS viết văn như thế nào? Tại sao học sinh, không chỉ có HS Tiểu học mà cả ở Trung học cơ sở, thậm chí Trung học phổ thông có thể viết ra những bài văn, câu văn ngô nghê như vậy? Trong các tranh cãi, bao giờ ý kiến cho rằng nguyên nhân của việc này là do HS quen với việc học thuộc lòng các bài văn mẫu, thiếu kiến thức, thiếu cảm xúc khi viết văn cũng được nhiều người đồng tình. Thậm chí, có người còn đem câu chuyện của chính mình ra kể để làm dẫn chứng như: Chúng tôi được học trong một ngôi trường rách nát với những túp lều vách đất mái lá xiêu vẹo. Thế mà kỳ thi HS giỏi của trường, chúng tôi được thầy ra đề TLV: “Em hãy tả lại mái trường quê em vào một buổi sáng mùa xuân”. Đọc xong đề tôi phóng bút bảy sắc cầu vồng, nào là trường quê em mái ngói đỏ tươi, nằm trên một khu đất rộng thoáng mát, hai bên đường là những cây phượng vĩ khoe sắc đỏ chói, phía sau là vườn thực hành sinh vật, phía trước là hồ cá, bể bơi... và thầy thưởng tôi điểm 10. Sau đó tôi có thắc mắc với thầy tại sao bài văn của tôi không đúng với thực tế của mái trường mà thầy vẫn cho điểm 10? Thầy trả lời qua quýt: Bài làm của em thế là tốt, đúng như thầy đã hướng dẫn.”

Tranh biếm hoạ trên báo Tuổi trẻTranh biếm hoạ trên báo Tuổi trẻ

Người ta đổ lỗi cho giáo viên (GV), cho chương trình, cho sách giáo khoa, cho áp lực điểm số… và cho văn mẫu. Nhiều người cực đoan cho rằng, việc cho HS đọc văn mẫu chính là “bóp nghẹt cảm xúc” của các em. “Văn mẫu làm HS nói dối, khiến các em "tự nhiên" với những lời "nói dối" trong tương lai". Người ta bật cười vì lời văn ngô nghê, hoặc thở dài trước những câu văn công nghiệp, rập khuôn, mười bài như một. Bên cạnh đó là cách thể hiện cảm xúc của HS trong những câu nghị luận xã hội na ná nhau, không có chính kiến và tính phản biện. Những ý kiến đó nếu xét về một khía cạnh nào đó không phải là không có lý. Tuy nhiên, nếu nhìn vấn đề một cách đa chiều, ta sẽ thấy rằng văn mẫu không có lỗi. Nên biết rằng phương pháp "Luyện tập theo mẫu” là một trong những phương pháp dạy học ngôn ngữ cơ bản (ngôn ngữ với tư cách là tiếng mẹ đẻ lẫn ngoại ngữ), việc dạy làm văn theo mẫu chính là việc tuân thủ phương pháp đó. Tuy nhiên, thế nào là “luyện tập theo mẫu?” và “luyện thế nào để việc dạy và học không rập khuôn từ “mẫu?”. Làm thế nào để người dạy, người học hiểu đúng về mẫu. GV biết tạo mẫu và giúp sử dụng mẫu như thế nào cho hiệu quả là vấn đề chúng tôi muốn bàn đề cập đến trong bài viết này.

  1. Giải quyết vấn đề

2.1. Vài nét về dạy TLV

Việc dạy Tập làm văn (TLV) có vai trò quan trọng trong việc hình thành năng lực giao tiếp cho HS. Hiện nay, nhiều GV chưa đánh giá đúng mức vị trí của môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học và đặc biệt là phân môn TLV. Phải hiểu rõ rằng: phân môn TLV là môn thực hành tổng hợp, là kết quả của các môn học, đồng thời cũng là môn tạo tiền đề để học tốt các môn học khác.

Dạy TLV tức là dạy HS tạo lập ngôn bản (nói, viết) tính đến các nhân tố của hoạt động giao tiếp và quá trình giao tiếp. “Văn là người” vì thế muốn làm văn hay thì các em phải có kiến thức thực tế cuộc sống, có tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động, có vốn hiểu biết và kĩ năng sử dụng Tiếng Việt thành thạo, để rồi rút gan ruột của mình ra mà thể hiện, trình bày sự cảm nhận của mình.

Dạy văn là quá trình đầy phức tạp, công phu. Dạy văn là dạy cho con người biết yêu cuộc đời trong toàn bộ tính hiện thực của nó. Biết lấy từ nó nguồn sống cho mình để có thể sống phù hợp với nó, nâng nó lên cao đẹp hơn. Sức sống của bài văn được nuôi bởi thái độ của chủ thể đối với cuộc sống. Dạy TLV do đó phải dạy cách sống và cách quan hệ với đời sống hiện thực, chứ không phải chỉ là cách dùng các thủ thuật TLV. Dạy TLV là dạy cho HS biết cách sống thực hơn, trung thành với mình hơn.

2.2. Hiểu đúng về “mẫu” và tầm quan trọng của “mẫu”

Văn là môn thực hành tổng hợp, nên dạy viết văn có thể xem là dạy một kỹ năng, vì thế Lê Xuân Mậu cho rằng “Đã là học một kỹ năng thì phải học theo mẫu, phải học làm theo một quy trình.” Hình như ít người chú ý đến điều đó, hơn nữa còn hiểu sai về nó. Việc coi thầy đưa ra các bài mẫu là một thứ áp đặt làm HS rập khuôn thiếu sáng tạo khi làm văn là một biểu hiện. Cần phân biệt sao chép theo mẫu và học theo mẫu. Trước khi viết văn sáng tạo, các nhà văn đều đi tìm các “mẫu” để học, tìm các bậc thầy để học “bí quyết” tham khảo “cách làm”. Trẻ học nói và cả người lớn học nói cũng đều nghe người khác nói (như tìm đến “mẫu”, tất nhiên ở đó có cái đúng, cái hay) mà học theo, “bắt chước” nói theo cách đó.

Trong một bài nghiên cứu của mình, Giáo sư Lê Phương Nga cũng viết “Dạy các tri thức Tiếng Việt, GV phải hình rõ sản phẩm mẫu của quá trình dạy học: Một lời nói đúng chuẩn ngôn ngữ, chuẩn văn hóa ra sao, một trang viết đúng chuẩn đẹp như thế nào, … một bài TLV được viết cụ thể ra sao… Nếu không xác định được mục tiêu trên, chúng ta sẽ như người đi không có hướng và không biết dẫn dắt HS đi đâu, bằng cách nào.” Bà cũng cho rằng GV cần phải có năng lực tạo mẫu bởi vì “GV không thể hình thành ở HS những năng lực, kĩ năng mà bản thân anh ta không có”; “không thể gặt hái những gì mà chúng ta không có khả năng gieo trồng” và “Trong dạy học, chúng ta không có quyền đòi hỏi HS làm những gì mà bản thân chúng ta không làm được.”

Từ đó chúng ta thấy, dạy văn nhất định phải có mẫu, phải dạy HS tập luyện từng bước theo mẫu, có như thế mới có thể hình thành một kĩ năng (kĩ năng tạo lập ngôn bản) cho HS. Tuy nhiên trên thực tế, việc dạy và học phân môn TLV ở tiểu học hiện nay còn rất nhiều vấn đề bất cập. 

Với GV, đây là một phân môn khó, đòi hỏi HS phải tổng hợp được kiến thức, phải thể hiện sự rung cảm cá nhân, phải biết thể hiện tiếng mẹ đẻ một cách trong sáng. Trong quá trình giảng dạy, hai thái cực thường xảy ra:

- Hoặc hướng dẫn chung chung để học sinh tự mày mò.

- Hoặc dùng “văn mẫu”, học sinh cứ việc sao chép.

Cả hai cách trên đều làm cho HS không biết làm văn, ngại học văn, mặc dù vẫn có tình yêu đối với văn học (ví dụ rất thích đọc truyện). Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, một phần là do trình độ nhận thức, năng lực sư phạm của GV, cũng có thể chính ngay trong GV cũng thiếu những tri thức khoa học cũng như vốn sống thực tế. Vấn đề này cho thấy, nhiều GV chưa đánh giá đúng mức vị trí của môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học và đặc biệt là phân môn TLV.

Đối với HS, kiến thức sách vở cũng như kiến thức thực tế còn rất nhiều lỗ hổng. Nhiều HS ở nông thôn chưa hề được ra thành phố, có em chưa từng được đến công viên, vườn bách thú hay những danh lam thắng cảnh khác… Nhiều HS ở thành phố chưa hề được nhìn thấy con gà đang gáy, con trâu đang cày ruộng, hoặc được ngắm nhìn những đêm trăng sáng, hoặc quan sát cánh đồng lúa khi thì xanh mướt, lúc thì vàng óng, trĩu bông… Do đó, khi làm bài, nhiều HS không hề nắm được đặc điểm đối tượng mình đang tả và đã viết không chân thực, bài văn khó có thể truyền cảm cho người đọc. Việc học tập trên lớp, vì thiếu tập trung và chưa có phương pháp học nên cũng có những hạn chế nhất định. Có HS khi đọc đề bài lên, không biết mình cần viết những gì và viết như thế nào, viết cái gì trước, cái gì sau,.... Một nguyên nhân nữa đó là bệnh thành tích trong Giáo dục, do cảm xúc đánh cược với điểm số nên HS lựa chọn cách mà các em cho là an toàn nhất là chép văn mẫu thay vì phải suy nghĩ, sáng tạo.

2.3 Sử dụng mẫu và tạo mẫu như thế nào trong dạy học TLV

2.3.1. Sử dụng mẫu như thế nào?

Mẫu ngôn ngữ trong dạy học tiếng Việt rất đa dạng: câu văn, đoạn thơ, biên bản hành chính… được GV sử dụng như những ngữ liệu trong các giờ Luyện từ và Câu, TLV. Mẫu cũng có thể là cách phát âm, cách đọc, một cử chỉ khi giao tiếp của chính GV. Dù đa dạng nhưng mẫu phải luôn gắn với tình huống giao tiếp cụ thể, có tác dụng giúp HS hiểu ý nghĩa, cấu trúc hình thức và sử dụng chúng dễ dàng.

TLV là phân môn mang tính tổng hợp cao trong môn Tiếng Việt ở tiểu học, đòi hỏi người học biết tổng hợp những kiến thức, kĩ năng ngôn ngữ của tất cả các phân môn để tạo nên lời nói của mỗi cá nhân. Ngoài ra, tiểu học là bậc học kĩ năng, HS chưa thể tự mình biết cách tổng hợp mà cần có sự hướng dẫn của GV. Vì vậy, để cho HS không chép văn theo mẫu, trước tiên là cần rèn cho HS các kĩ năng làm văn như: tìm ý, sắp xếp ý theo từng nội dung, lập dàn ý, viết đoạn…

Trong phân môn TLV, phương pháp "Luyện tập theo mẫu" đóng vai trò quan trọng, được sử dụng trong hầu hết các bài hình thành kiến thức mới. Dạy văn là dạy thực hành, Lê Xuân Mậu cho rằng GV dạy văn giống một người thợ cả truyền nghề. Quy dình đó gồm hai bước:

  1. Phân tích mẫu, rút ra những điều có tính lý thuyết về cách làm.
  2. Cho học trò thực hành từng mức độ.

- Có thể tập từng thao tác cơ bản.

- Có thể lắp ráp lại theo một cái mẫu đã cho với hai giai đoạn được cung cấp vật liệu, linh kiện - tự tìm vật liệu hoặc chế tác ra các linh kiện.

- Có thể làm các sản phẩm với yêu cầu sáng tạo khác nhau từ một cái “mẫu” (cải biên ở điểm này điểm khác, có thể tạo ra một sản phẩm khác hẳn cơ bản về mặt nào đó để đáp ứng yêu cầu thực tế).

 Qui trình này không phải là mới, nhưng ý thức cho rõ ràng và thực hiện một cách nghiêm túc thì không nhiều. Đấy là chưa kể chuyện thầy không biết đóng vai thợ cả làm mẫu, vin vào lý luận mơ hồ là tôn trọng sự sáng tạo của HS vì làm văn là sáng tạo. Hoặc cho rằng làm văn không ai dạy được ai đã là “kẽ hở” để nhiều người không dạy cụ thể mà chỉ đóng vai… “nhà phê bình” với người sáng tác có thể thiếu thuyết phục.

 Với việc dạy lý thuyết, việc chọn mẫu là một việc còn bị thả nổi hoặc làm không đúng hướng. GV hiểu sai, hoặc cố tình hiểu sai về mẫu, không biết phân tích mẫu để giúp HS nắm được cái hay, cái đẹp của mẫu. Cần học tập ở mẫu điều gì, biến đổi thế nào, dẫn đến HS hiểu sai rằng chỉ cần thuộc mẫu là được. Khi viết bài, HS chỉ cần chép đúng mẫu là được điểm cao nên có chuyện khi nhận được đề bài tả ông, một HS tả ông nội em thấp đậm, đầu hói, bụng to, không thích tập thể dục, thích uống bia… bao giờ cũng thấp điểm hơn bài văn tả ông với những chi tiết như ông em đã già nhưng vẫn còn nhanh nhẹn, mái tóc bạc trắng, đôi mắt sáng, hiền từ, mặc dù thực tế ông nội của HS đó không hề có các đặc điểm như trong bài văn mẫu. Thực tế đó dẫn đến việc HS dần xa lánh, đôi khi sợ hãi môn văn xuất phát từ việc các em không được bày tỏ cảm xúc thật sự của mình. Việc phải thể hiện quan điểm theo cách nhìn có sẵn làm cho các em chán ngán, từ đó biến mình thành những cỗ máy tập chép và photo cảm xúc cho an toàn.

"Mẫu" là quan trọng, nhưng không nên hiểu một cách máy móc "mẫu" là những bài văn được người lớn, được thầy cô làm sẵn, HS chỉ cần học thuộc, chép đúng. Bởi vì nếu chỉ như thế, chúng ta sẽ toàn gặp những bài văn sáo rỗng, vô hồn. Những bài văn giống nhau y hệt và khi HS của chúng ta ra đời, đến một cái giấy xin phép nghỉ ốm cũng không biết viết chứ đừng nói đến bài văn, tác phẩm.

               Trước khi HS làm một bài văn nên cho các em tham khảo văn mẫu có cùng đề bài. Tuy nhiên cần cho HS nhận ra được nét riêng biệt của từng bài: sự quan sát, cảm nhận về đối tượng; nhận xét khác nhau của cùng một sự việc… và văn là sản phẩm riêng của mỗi người, không ai giống ai. Từ đó, HS học được cách nghĩ, cách làm của nhiều đối tượng khác nhau: nhà văn, bạn bè và chính mình; biết tôn trọng ý kiến người khác và “chịu khó” tìm tòi nét riêng cho bài văn của mình. Như vậy, việc HS được tìm hiểu và khám phá một bài văn hay, một câu văn độc đáo sẽ được các em tái tạo lại một cách sáng tạo, chứ không phải dừng lại ở việc tái tạo đơn giản. GV hướng dẫn HS dùng những hiểu biết và kinh nghiệm về ngôn ngữ, về cuộc sống để phân tích và nhận ra những điều cần học từ văn mẫu. Từ đó, khuyến khích HS suy nghĩ để ứng dụng linh hoạt, có thể bắt chước cách nghĩ, cách thức lập luận, cách quan sát, cách dùng từ, đặt câu… của tác giả văn mẫu nhưng ý tưởng, diễn đạt, quan điểm… là phải của chính mình, mang sắc thái của cá nhân mình. GV cũng cần dựa vào Tâm lí học để có nghệ thuật khơi gợi “cái tôi muốn thể hiện, muốn tạo sự khác biệt (dĩ nhiên là khác biệt tích cực), muốn hay, độc, lạ” của HS để tạo cho HS sự hứng thú và say mê trong làm văn.

                Bài TLV, về bản chất là một văn bản giao tiếp gián tiếp với một đối tượng cụ thể (ngầm ẩn). Nó phải trả lời được các câu hỏi: Viết cái gì? Viết cho ai? Viết để làm gì? Tất cả các lý thuyết và kinh nghiệm tạo lập một văn bản chỉ là cách nói phù hợp qui ước chung trong trường hợp ấy mà thôi. Khi nắm vững cái yêu cầu cơ bản về giao tiếp người ta sẽ dễ dàng học tập cách làm ngôn bản, văn bản cụ thể qua cách học ở trường hay tự học qua mẫu thực tế sau này..

2.3.2. Tạo mẫu trong dạy học TLV theo xu thế mới

Thay vì viết bài mẫu cho học sinh chép lại, học thuộc hoặc yêu cầu học sinh mua sách văn mẫu, hiện nay trong dạy học TLV cho HS tiểu học, GV có thể tạo mẫu theo nhiều cách khác nhau. Thứ nhất là tạo cho HS một cái "khung" định sẵn. Ví dụ, GV có thể cung cấp cho HS đoạn mẫu để tả mầu xanh của khu rừng, từ đó đặt câu hỏi khai thác để giúp HS cảm nhận về cách tả mầu xanh mướt, xanh đậm, xanh thẳm xanh lơ, của bầu trời, của mặt nước, của lá cây trong rừng. Từ đó yêu cầu HS tả một cánh đồng, một mảnh vườn với mầu xanh hay một mầu nào đó khác. Cách thứ hai, dễ thực hiện hơn là tạo mẫu ngay trong đề bài TLV. Thay vì những đề văn cộc lốc như tả lại khu vườn nhà em, tả lại cánh đồng làng em, tả cô giáo/bố/mẹ… em. Cần có những đề văn khuyến khích và tạo điều kiện để HS viết sáng tạo. Ví dụ, thay vì yêu cầu HS tả một loài hoa yêu thích, GV có thể ra đề như sau:

"Để lại sắc vàng trong nắng

Cúc vẫy tay chào mùa thu

Để lại hương nồng trong gió

Ngọc lan khẽ bước qua mùa…

Từ ý thơ trên, em hãy tả một loài hoa mà em yêu thích."[3]

Hay, thay vì yêu cầu HS tả dòng sông quê em, GV có thể ra đề: "Buổi sáng, khi ông mặt trời thức giấc, dòng sông quê em vàng rực rỡ với những hạt nắng vàng nhảy nhót trên sóng. Buổi trưa, sông lại hiền hòa yên ả với con đò êm êm khua nước, với những rặng cây xanh mướt nghiêng soi, xanh mầu xanh thăm thẳm của trời. Em hãy tả lại sự thay đổi của dòng sông quê em trong ngày để mọi người cùng biết."

Một ví dụ khác: "Một con sẻ non mép hãy còn vàng óng, trên đầu chỉ có một nhúm lông tơ rơi từ trên tổ xuống đất. Con chó săn tiến lại gần. Bỗng sẻ mẹ từ một ngọn cây gần đó lao xuống, lấy thân mình phủ kín sẻ con… Con chó săn bối rối, đứng dừng lại rồi quay đầu bỏ chạy…

Em hãy đặt mình trong vai sẻ con để kể lại câu chuyện trên và nói lên cảm nghĩ của mình khi được bảo vệ bằng đôi cánh yêu thương, bằng lòng dũng cảm của mẹ. [Ôn luyện thi vào 6 môn Tiếng Việt –LPN- 2014]

Những đề TLV kiểu này giúp HS có được định hướng rõ ràng khi viết, không mơ hồ khi bắt tay vào việc làm bài.

  1. Kết luận

"Luyện tập theo mẫu” là một trong những phương pháp quan trọng của việc dạy ngôn ngữ nói chung và dạy học TLV nói riêng. Biết vận dụng đúng lúc, đúng chỗ thì "mẫu" sẽ đem lại hiệu quả tích cực. Lạm dụng để sao chép thì HS sẽ mất đi cảm xúc hồn nhiên, chân thật, từ đó dẫn đến sự dối trá, đối phó, lấy sự giả tạo làm điểm số cho kết quả học Tiếng Việt và các bài TLV. Để làm được điều này, GV cần hiểu đúng về mẫu, vai trò của mẫu trong dạy học. Cũng vì thế mà bồi dưỡng năng lực tạo mẫu cho GV được Giáo sư Lê Phương Nga xem là mục tiêu đầu ra cuối cùng của quá trình dạy học các tri thức Tiếng Việt.

------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

  1. Lê Ngọc Tường Khanh, Dạy làm văn theo mẫu,nhìn từ tiểu học, Tạp chí KH ĐHSP TPHCM, số 62 năm 2014.
  2. Lê Xuân Mậu, Các bài viết về Dạy Tập làm văn, báo Giáo dục TPHCM.
  3. Lê Phương Nga (chủ biên), Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, 2009.
  4. Lê Phương Nga, Bảo đảm mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh…, Tạp chí khoa học ĐHSP HN, số 58 năm 2013.