Phát triển năng lực lập luận cho học sinh tiểu học với văn kể chuyện

  • 18/06/2017 | 10:04 GMT+7         10.046 lượt xem

Chúng ta đã bắt đầu làm quen với tác giả Chu Thị Thuỷ An, Khoa Giáo dục, Đại học Vinh qua bài viết về phát triển năng lực lập luận cho học sinh tiểu học khi dạy các em làm văn miêu tả. Bài tiếp theo tác giả sẽ trao đổi tiếp với tình huống học sinh với văn kể chuyện.

Năng lực lập luận là năng lực đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đó mà người nói muốn đạt tới. Văn kể chuyện là thể loại văn nghệ thuật, vận dụng tổng hợp, ở mức độ cao, vốn tri thức về cuộc sống, về văn chương và các kĩ năng của người nói, người viết để thuyết phục nhận thức, tư tưởng, tình cảm, hành động của người nghe, người đọc. Quan hệ lập luận, vì thế, xuyên suốt trong toàn bộ văn bản truyện kể. Xuất phát từ đặc trưng của văn kể chuyện, bài viết đề xuất các biện pháp phát triển năng lực lập luận cho học sinh tiểu học như: định hướng lập luận qua việc xây dựng và sắp xếp các sự việc để tạo thành cốt truyện; định hướng lập luận qua việc kể lại hành động, ý nghĩ và lời nói của nhân vật; định hướng lập luận qua việc lựa chọn các chi tiết miêu tả cùng chủ đề và sử dụng các từ ngữ cùng trường nghĩa để miêu tả ngoại hình nhân vật.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Năng lực lập luận là năng lực đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đó mà người nói muốn đạt tới. Trong mọi loại hình giao tiếp, nhằm đạt được mục đích giao tiếp đã xác định, người nói, người viết đều phải phát huy năng lực lập luận của mình.

Trong các thể loại tập làm văn, văn kể chuyện là thể loại văn nghệ thuật gắn liền với đời sống xã hội, có tác dụng giáo dục đạo đức, tư tưởng tình cảm, kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. Thể loại tập làm văn này vận dụng tổng hợp, ở mức độ cao, vốn tri thức về cuộc sống, về văn chương và các kĩ năng của người nói, người viết để thuyết phục nhận thức, tư tưởng, tình cảm, hành động của người nghe, người đọc. Quan hệ lập luận vì thế xuyên suốt trong toàn bộ văn bản. Năng lực xác định, duy trì sự chặt chẽ, mạch lạc, thuyết phục người tiếp nhận từ mọi góc độ là năng lực không thể thiếu khi làm văn kể chuyện.

1.2. Muốn kể chuyện thì phải có cốt truyện, đó là một chuỗi sự việc có đầu có cuối, liên quan đế một hay một số nhân vật. Qua sự việc có diễn biến, có nhân vật, người kể nhằm nói lên một điều gì đó. Cho nên kể chuyện thực ra không phải giản đơn là kể một câu chuyện nào đó mà thông qua câu chuyện, thông qua số phận nhân vật, người kể muốn thể hiện ý nghĩa của cuộc đời, bài học về con người, về nhân sinh quan, thế giới quan, từ đó, giúp mọi người thấy được cái hay, cái đẹp của cuộc sống, sống tốt hơn, đẹp hơn. Do đó, “sự việc có diễn biến”,“các nhân vật”chỉ là phương tiện còn “ý nghĩa, điều muốn nói” mới là mục đích của truyện. Người ta có thể kể về con người, sự việc thật, đã xảy ra trên đời, cũng có thể “bịa” ra câu chuyện, “bịa” ra nhân vật dựa trên kinh nghiệm sống của mình nhưng không thể “bịa” ra ý nghĩa cuộc đời. Ý nghĩa cuộc đời phải rất thật, phải thể hiện sâu sắc niềm tin, lí tưởng, đạo đức thiêng liêng của dân tộc, thời đại. Vai trò của người kể là phải sử dụng các tình tiết, các sự kiện, đặc điểm tính cách các nhân vật làm luận cứ để người nghe, người đọc tự đi đến những kết luận, những bài học về ý nghĩa cuộc đời, nhân tình thế thái, nhân sinh quan, thế giới quan...

Cụ thể hơn nữa, để làm được những điều trên, người kể chuyện cần phải biết xây dựng cốt truyện, đảm bảo được sự lập luận chặt chẽ khi kể chuyện, phải miêu tả đặc điểm ngoại hình, hành động, lời nói của nhân vật để làm rõ tính cách, thân phận của nhân vật. Muốn thực hiện được điều này, người kể cần phải biết sử dụng các dấu hiệu giá trị học, các luận cứ, các kết luận. Yếu tố lập luận luôn có mặt trong văn kể chuyện vì nhờ nó mà người viết thể hiện được ý đồ xây dựng nhân vật của mình, gửi gắm được tâm tư, tình cảm của mình trong các nhân vật.

1.3. Ở tiểu học, văn kể chuyện được dạy ở lớp 4. Thực tiễn khảo sát các bài Tập làm văn kể chuyện của học sinh lớp 4 cho thấy, các em còn mắc khá nhiều lỗi về lập luận khi kể chuyện. Học sinh thường không xác định rõ mục đích kể chuyện nên lập luận không chặt chẽ; ít quan tâm đến việc sử dụng các yếu tố định hướng và nối kết lập luận. Các em kể lại đầy đủ các tình tiết của cốt truyện đã dự định nhưng lại chưa biết sắp xếp trật tự trước sau hay nhấn mạnh các tình tiết cần thiết để làm bật nổi ý nghĩa của câu chuyện. Học sinh cũng chưa làm toát lên được hình ảnh, tính cách nhân vật nên cũng chưa bộc lộ được những hàm ý của tác giả trong mỗi câu chuyện. Đó là chưa kể đến các loại lỗi mà các em mắc phải trong diễn đạt, lựa chọn tình tiết, miêu tả ngoại hình và tính cách nhân vật, sử dụng các tác tử và kết tử lập luận.

Xuất phát từ các đặc trưng của văn kể chuyện, chúng tôi đề xuất ba biện pháp phát triển năng lực làm văn kể chuyện cho học sinh lớp 4.


Nhiều Hội thi kể chuyện tổ chức cho học sinh tiểu học.Nhiều Hội thi kể chuyện tổ chức cho học sinh tiểu học.

2. CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC LẬP LUẬN VỚI VĂN KỂ CHUYỆN

2.1. Biện pháp 1: Luyện tập định hướng lập luận qua việc xây dựng và sắp xếp các sự việc để tạo thành cốt truyện

- Ý nghĩa của biện pháp: Mỗi sự việc chính là một luận cứ nhằm hướng đến kết luận là nội dung, ý nghĩa của câu chuyện. Kết luận có thể tường minh cũng có thể hàm ẩn. Biện pháp này luyện cho học sinh năng lực sắp xếp các sự việc chính của câu chuyện để có được cốt truyện lô gic, hợp lý, toát lên được ý nghĩa giáo dục, đạo đức, tư tưởng, tình cảm người kể muốn thể hiện.

- Nội dung của biện pháp: Cốt truyện là một chuỗi sự việc làm nòng cốt cho diễn biến của câu chuyện. Cốt truyện thường bao gồm 3 phần: mở đầu, diễn biến và kết thúc. Mỗi câu chuyện có thể có nhiều sự việc chính. Việc sắp xếp các sự việc chính của câu chuyện là sắp xếp các chi tiết, biến cố để tạo nên một tác phẩm có giá trị. Để có được một cốt truyện lô gic, phù hợp với ý nghĩa giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm mà mình muốn thể hiện, HS cần thực hiện các bước sau:

Bước 1: Xác định yêu cầu của đề bài: Đề bài yêu cầu xây dựng cốt truyện trên cơ sở truyện có sẵn hay truyện sáng tác mới? Câu chuyện bao gồm những nhân vật nào, tính cách mỗi nhân vật ra sao? Câu chuyện gồm bao nhiêu sự việc chính, đó là những sự việc nào? Sự việc nào quan trọng đóng vai trò “khơi nguồn” để các sự việc khác diễn ra? Kết cục của câu chuyện như thế nào? Câu chuyện mang lại cho chúng ta bài học gì?

Bước 2: Thực hành sắp xếp các sự việc chính để tạo thành cốt truyện: Căn cứ vào những định hướng trên, HS lựa chọn trình tự phát triển của cốt truyện và sắp xếp các tình tiết theo trình tự mình lựa chọn. Tuy nhiên, các tình tiết chuyện luôn gắn liền với hành động của nhân vật. HS phải dựa vào hành động của nhân vật để sắp xếp các sự việc theo một diễn biến phù hợp với câu chuyện và mục đích, ý nghĩa mà mình muốn thể hiện.

Ví dụ:

Truyện cổ tích Cây khế bao gồm các sự việc chính sau đây, hãy sắp xếp các sự việc trên thành cốt truyện:

a) Chim chở người em bay ra đảo lấy vàng, nhờ thế người em trở nên giàu có.

b) Cha chết, người anh chia gia tài, người em chỉ được cây khế.

c) Người anh biết chuyện, đổi gia tài của mình lấy cây khế, người em bằng lòng.

d) Cây khế có quả, chim đến ăn, người em phàn nàn và chim hẹn trả ơn bằng vàng.

e) Chim lại đến ăn, mọi chuyện diễn ra như cũ, nhưng người anh may túi quá to và lấy quá nhiều vàng.

g) Người anh bị rơi xuống biển và chết.

(Tiếng Việt 4, tập 1, tr. 43)

Với bài tập này, GV có thể hướng dẫn học sinh lập luận bằng cách sắp xếp các sự việc theo một trình tự hợp lý như sau:

- Sự việc đóng vai trò “khơi nguồn” của cốt truyện này là gì? (b.Người anh tham lam khi cha mẹ chết đã giành lấy hết gia tài và chỉ chia cho em mình cây khế)

- Khi cây khế có quả chín thì sự việc gì đã xảy ra? (d.Cây khế có quả, chim đến ăn, người em phàn nàn và chim hẹn trả ơn bằng vàng.)

- Chim có thực hiện lời hứa với người em không? (a.Chim chở người em bay ra đảo lấy vàng, nhờ thế người em trở nên giàu có.)

- Người anh vốn tham lam. Khi nghe em giàu có người anh đã làm gì? (c.Người anh biết chuyện, đổi gia tài của mình lấy cây khế, người em bằng lòng).

- Khi người anh có cây khế rồi, sự việc gì đã xảy ra? (e.Chim lại đến ăn, mọi chuyện diễn ra như cũ, nhưng người anh may túi quá to và lấy quá nhiều vàng.)

- Lòng tham của người anh đã dẫn đến hậu quả gì? (g.Người anh bị rơi xuống biển và chết.)

Cốt truyện gồm có 3 phần: Mở đầu (sự việc b), Diễn biến (sự việc d, a, c, e) và Kết thúc (Sự việc g).

Sau khi đã thực hiện thao tác lập luận xong, học sinh sắp xếp các sự việc theo thứ tự 1-b, 2-d, 3-a, 4-c, 5-e, 6-g và đọc lại cốt truyện đã sắp xếp và tập kể câu chuyện. Sau khi HS tập kể câu chuyện, GV cần cho HS rút ra ý nghĩa của câu chuyện. Bởi ý nghĩa đó chính là hướng kết luận mà HS cần hướng tới trong quá trình sắp xếp tình tiết và lựa chọn ngôn ngữ kể.

 

Tranh minh hoạ truyện cổ tích "Cây khế".Tranh minh hoạ truyện cổ tích "Cây khế".

Đối với loại bài tập yêu cầu HS sáng tạo ra cốt truyện, chúng ta có thể rèn luyện kĩ năng định hướng lập luận cho HS bằng cách đưa ra những mục tiêu khác nhau về ý nghĩa của câu chuyện, yêu cầu HS tạo ra các sự việc (luận cứ) khác nhau phục vụ cho mục đích giáo dục đạo đức, tư tưởng tình cảm (kết luận) của câu chuyện.

Chẳng hạn, với đề bài "Hãy tưởng tượng và kế lại vắn tắt một câu chuyện có ba nhân vật: bà mẹ ốm, người con của bà mẹ và một bà tiên."

 (Tiếng Việt 4, tập 1, tr.45)

Có thể đưa ra hai gợi ý về bài học đạo đức, tư tưởng tình cảm của câu chuyện:

(1) Câu chuyện về ba nhân vật như trên có thể là một câu chuyện về sự hiếu thảo của người con.

(2) Câu chuyện về ba nhân vật như trên có thể là một câu chuyện về tính trung thực.

Muốn kể về một người con hiếu thảo (1), HS có thể tưởng tượng:

- Bà mẹ ốm như thế nào?

- Người con chăm sóc mẹ thế nào?    

- Để chữa khỏi bệnh cho người mẹ, người con gặp những khó khăn gì?

   (Ví dụ: Phải tìm một loại thuốc rất hiếm)

- Bà tiên đã giúp hai mẹ con như thế nào?

         (Mẫu: - Cảm động về tình mẹ con, bà tiên bỗng hiện ra giúp.

                    - Người con vượt qua rất nhiều khó khăn đi tìm bà tiên.)

Muốn kể một câu chuyện về tính trung thực(2), HS có thể tưởng tượng:

- Bà mẹ ốm như thế nào?

- Người con chăm sóc mẹ thế nào?

- Để chữa khỏi bệnh cho người mẹ, người con gặp những khó khăn gì?

         (Mẫu: Nhà rất nghèo, không có tiền mua thuốc)

- Bà tiên làm cách nào biết người con là người trung thực?

- Bà tiên giúp đỡ người con trung thực như thế nào?

         Thông qua những bài tập dạng này, kĩ năng sáng tạo tình tiết cho phù hợp với mục đích kể chuyện của HS sẽ được nâng cao; năng lực lập luận của HS ngày càng phát triển.

 

Đứa con hiếu thảo bên giường bệnh của mẹ.Đứa con hiếu thảo bên giường bệnh của mẹ.

2.2. Biện pháp 2: Luyện tập định hướng lập luận qua việc kể lại hành động, ý nghĩ và lời nói của nhân vật

- Ý nghĩa của biện pháp: Hành động, lời nói, ý nghĩ của nhân vật là các yếu tố làm nên tính cách của nhân vật trong câu chuyện. Hành động, lời nói, ý nghĩ của nhân vật chính là các luận cứ. Kết luận chính là điều mà người nghe, người đọc rút ra về tính cách của mỗi nhân vật và mục đích, ý nghĩa của câu chuyện. Khi rèn luyện cho HS kĩ năng lựa chọn cách kể về hành động, ý nghĩ, lời nói nhân vật phù hợp với tính cách nhân vật, thể hiện được cách nhìn, cách nghĩ của mình về các nhân vật trong câu chuyện chính là rèn luyện kĩ năng lập luận, cụ thể là kĩ năng sử dụng luận cứ để dẫn dắt người nghe tự đi đến kết luận.

- Nội dung biện pháp: Để HS rèn được kĩ năng trên, GV cần hướng dẫn các em xác định rõ tính cách của nhân vật, sau khi đã xác định mục đích, ý nghĩa của câu chuyện. Sau đó, căn cứ vào tính cách của nhân vật, xây dựng và thể hiện các hành động, lời nói, ý nghĩ tiêu biểu nhất. Về hành động của nhân vật, nên lưu ý HS sắp xếp các hành động theo trật tự trước sau lô gic để đạt được mục đích lập luận tức là toát lên được tính cách của nhân vật và ý nghĩa câu chuyện.Về lời nói và ý nghĩ, căn cứ vào kết luận( tính cách nhân vật đã xác định), GV hướng dẫn HS tìm các luận cứ (các lời nói và ý nghĩ của nhân vật) và thể hiện thành lời kể.

Người con đã gặp được bà tiênNgười con đã gặp được bà tiên

Ví dụ:

Chim Sẻ và Chim Chích là đôi bạn thân, nhưng tính tình khác nhau. Chích xởi lởi, hay giúp bạn. Còn Sẻ thì đôi khi bụng dạ hẹp hòi. Dưới đây là một số hành động của hai nhân vật ấy trong câu chuyện Bài học quý. Em hãy điền tên nhân vật (Chích hoặc Sẻ) vào trước hành động thích hợp và sắp xếp các hành động ấy thành một câu chuyện:

  1. Một hôm,…..được bà gửi cho một hộp hạt kê.
  2. Thế là hằng ngày …..nằm trong tổ ăn hạt kê một mình.
  3. ….đi kiếm mồi, tìm được những hạt kê ngon lành ấy.
  4. Khi ăn hết,….bèn quẳng chiếc hộp đi.
  1. ….không muốn chia cho ……cùng ăn.
  2. …..bèn gói cẩn thận vào những hạt kê còn sót lại vào một chiếc lá, rồi đi tìm người bạn thân của mình.
  3. Gió đưa những hạt kê còn sót lại trong hộp bay xa.
  4. ….vui vẻ đưa cho…. một nửa.
  5. …ngượng nghịu nhận quà của… và tự nhủ: “…đã cho mình một bài học quý về tình bạn”.

(Tiếng Việt 4, tập 1, tr.20 )

Để rèn luyện kĩ năng lựa chọn, sắp xếp hành động nhằm làm nổi rõ tính cách nhân vật, HS cần thực hiện các bước sau đây:

Bước 1: Đọc đề bài và xác đinh yêu cầu của đề bài.

Bước 2: Xác định tính cách của hai nhân vật Chính và Sẻ? (Chích xởi lởi, hay giúp bạn. Sẻ thì đôi khi bụng dạ hẹp hòi).

Bước 3: Xác định ý nghĩa của câu chuyện.

Bước 4: Điền tên nhân vật vào trước hành động thích hợp.

Bước 5: Sắp xếp các hành động thành một câu chuyện.

HS có thể suy nghĩ như sau: hành động 1 và 2 là của Sẻ - bụng dạ hẹp hòi mới ăn hạt kê một mình. Và cũng chính Sẻ hẹp hòi nên Sẻ mới không cho Chích cùng ăn (hành động 5) và khi ăn hết sẻ bèn quẳng chiếc hộp đi (hành động 4). Còn Chích xởi lởi hay giúp bạn nên cũng sẽ là người cẩn thận gói những hạt kê còn sót lại và đi tìm người bạn của mình (hành động 6) và vui vẻ chia cho bạn một nửa (hành động 8). Đó chính là những hạt kê ngon lành Chích đi kiếm mồi và tìm được (hành động 3). Từ những luận cứ về việc làm trên của Sẻ và Chích đã dẫn đến việc Sẻ ngượng nghịu nhận quà của Chích và tự nhủ: “Chích đã cho mình một bài học quý về tình bạn” (hành động 9).

Đáp án bài tập như sau:

1. Một hôm, Sẻ được bà gửi cho một hộp hạt kê.

2. Sẻ không muốn chia cho Chích cùng ăn.

3. Thế là hàng ngày, Sẻ nằm trong tổ ăn hạt kê một mình.

4. Khi ăn hết, Sẻ bèn quẳng chiếc hộp đi.

5. Gió đưa những hạt kê còn sót lại trong hộp bay xa.

6. Chích đi kiếm mồi tìm được những hạt kê ngon lành ấy.

7. Chích bèn gói cẩn thận vào những hạt kê còn sót lại vào một chiếc lá, rồi đi tìm người bạn thân của mình.

8. Chích vui vẻ đưa cho Sẻ một nửa.

9. Sẻ ngượng nghịu nhận quà của Chích và tự nhủ: “Chích đã cho mình một bài học quý về tình bạn."

Việc sắp xếp các hành động như trên không chỉ nhất quán về tính cách các nhân vật mà còn giúp gợi lên ý nghĩa sâu sắc về tình bạn của câu chuyện. Đó chính là các kết luận lớn và nhỏ của một lập luận có cấu trúc tầng bậc. Các hành động của nhân vật là luận cứ hướng tới kết luận là tính cách nhân vật; tính cách của các nhân vật lại là các luận cứ hướng tới kết luận là ý nghĩa của câu chuyện.

Chích đã cho Sẻ một bài học quý.Chích đã cho Sẻ một bài học quý.
 

Trong câu chuyện, tính cách nhân vật không chỉ hiện lên qua hành động mà còn được khắc họa qua lời nói và ý nghĩ. Lời nói, ý nghĩ của nhân vật cũng góp phần thể hiện ý nghĩa của câu chuyện. Hướng dẫn HS kể lại lời nói và ý nghĩ của nhân vật để phục vụ cho nội dung câu chuyện và khắc họa tính cách nhân vật, tức là hướng dẫn các em tìm các luận cứ. Lời nói và ý nghĩ của nhân vật có thê được kể nguyên văn (lời dẫn trực tiếp) hoặc kể bằng lời của người kể chuyện (lời dẫn gián tiếp). GV có thể hướng dẫn HS thực hành trên ngữ liệu mẫu và sáng tạo mẫu. Ngữ liệu có thể là các bài tập đọc, các đoạn văn kể chuyện có lời nói, ý nghĩ của nhân vật.

Chẳng hạn, GV lựa chọn đoạn văn trong câu chuyện Người ăn xin và yêu cầu HS thao tác trên ngữ liệu mẫu:

                                                                                Người ăn xin

         Lúc ấy, tôi đang đi trên phố. Một người ăn xin già lọm khọm đứng ngay trước mặt tôi. Đôi mắt ông lão đỏ đọc và giàn dụa nước mắt. Đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi thảm hại... Chao ôi! Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào!

         Ông già chìa trước mặt tôi bàn tay sưng húp, bẩn thỉu. Ông rên rỉ cầu xin, cứu giúp.

         Tôi lục tìm hết túi nọ, túi kia, không có tiền, không có đồng hồ, không có cả một chiếc khăn tay. Trên người tôi chẳng có tài sản gì.

         Người ăn xin vẫn đợi tôi. Tay vẫn chìa ra, run lẩy bảy. Tôi chẳng biết làm cách nào.Tôi nắm chặt lấy bạn tay run rẩy kia:

         - Ông đừng giận cháu, cháu không có gì cho ông cả.

Người ăn xin nhìn tôi chằm chằm bằng ánh mắt ướt đẫm. Đôi môi tái nhợt nở nụ cười và tay ông cũng xiết lấy tay tôi:

         - Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.- Ông lão nói bằng giọng khản đặc.

         Khi ấy, tôi chợt hiểu rằng: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được chút gì của ông lão.

(Theo Tuốc - ghê - nhép, Tiếng Việt 4, tập1, tr.30)

  1. Tìm những câu ghi lại lời nói ý nghĩ của cậu bé.
  2. Trả lời câu hỏi: Lời nói và ý nghĩ của cậu bé nói lên điều gì về cậu bé ?        

Đáp án của bài tập như sau:

  1. Những câu ghi lại lời nói và ý nghĩ của cậu bé:
    a. Những lời nói của cậu bé:

         - Ông đừng giận cháu, cháu không có gì để cho ông cả.
         b. Những câu ghi lại ý nghĩ của cậu bé:

         - Chao ôi ! Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào.

         - Cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được chút gì của ông lão

  1. Lời nói và ý nghĩ của cậu bé đã nói lên cậu là người có lòng nhân hậu, biết chia sẻ, giúp đỡ người khác mặc dù cậu bé không có gì để cho ông lão cả.

Như vậy là cháu đã cho lão rồi...Như vậy là cháu đã cho lão rồi...

2.3. Biện pháp 3: Luyện tập định hướng lập luận qua việc lựa chọn các chi tiết miêu tả cùng chủ đề và sử dụng các từ ngữ cùng trường nghĩa để miêu tả ngoại hình nhân vật

- Ý nghĩa của biện pháp: Trong bài văn kể chuyện, nhiều khi cần miêu tả ngoại hình của nhân vật. Những đặc điểm ngoại hình tiêu biểu có thể góp phần nói lên tính cách hoặc thân phận nhân vật và làm cho câu chuyện thêm sinh động.” (Tiếng Việt 4, tập 1, tr.24). Như vậy, ngoại hình các nhân vật cũng chính là các luận cứ hướng tới kết luận là tính cách nhân vật.

Đối với việc miêu tả ngoại hình nhân vật, việc sử dụng các dấu hiệu giá trị học như từ ngữ cùng trường nghĩa, các chi tiết miêu tả cùng chủ đề là phương tiện hữu hiệu hướng người đọc, người nghe đến kết luận về tính cách nhân vật.

+Những chi tiết miêu tả như: dáng người gầy gò, da xanh xao, giọng nói yếu ớt, bước chân run rẩy… hướng người đọc, người nghe đến kết luận về một con người ốm yếu, tính cách nhút nhát.

+ Những chi tiết miêu tả như: cơ thể cường tráng, thân hình vạm vỡ, bắp thịt cuồn cuộn, da dẻ hồng hào, nụ cười sảng khoái, giọng nói sang sảng... hướng người đọc, người nghe đến kết luận về nhân vật nam thanh niên khỏe mạnh, cường tráng, tự tin.

+ Những chi tiết ngoại hình như: da nhăn nheo, lưng còng, bước đi chậm chạp, không còn nhanh nhẹn, ốm yếu, tóc bạc trắng, mắt mờ, tai nghe không rõ, tay chống gậy, bước đi khó nhọc… gợi nên hình ảnh bà lão già yếu.

+ Những chi tiết miêu tả như: khuôn mặt tròn trịa, bụ bẫm, nước da trắng hồng, hai má bầu bĩnh, cặp mắt đen lay láy… hướng người đọc, người nghe đến kết luận về nhân vật là em bé khỏe mạnh, dễ thương.

- Nội dung của biện pháp:

Để HS có kĩ năng này, GV có thể cho HS luyện tập trên hai dạng bài tập:

Thứ nhất, HS phân tích các ngữ liệu mẫu để thấy được cách miêu tả ngoại hình của nhà văn, từ đó rút ra kết luận về tính cách nhân vật.

Ví dụ: Trong đoạn văn sau, tác giả đã chú ý miêu tả ngoại hình ông lão ăn xin qua những chi tiết nào ? Các chi tiết đó nói lên điều gì về ông lão?

 "Lúc ấy, tôi đang đi trên phố. Một người ăn xin già lọm khọm đứng ngay trước mặt tôi.

Đôi mắt ông lão đỏ đọc và giàn giụa nước mắt. Đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi thảm hại…Chao ôi! Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào!

Ông già chìa trước mặt tôi, bàn tay sưng húp, bẩn thỉu. Ông rên rỉ cầu xin cứu giúp…"

Các chi tiết miêu tả được sử dụng trong đoạn văn trên là: già lọm khọm, tả tơi, thảm hại, gặm nát con người đau khổ, xấu xí, sưng húp, bẩn thỉu, rên rỉ cầu xin cứu giúp.. đã làm nổi bật lên hình ảnh của một ông lão tội nghiệp, đáng thương.

Thứ hai, GV cho HS quan sát các nhân vật qua tranh ảnh hoặc các đoạn phim, sau đó, yêu cầu HS kể lại câu chuyện trong đó kết hợp miêu tả ngoại hình nhân vật. Cũng có thể yêu cầu HS chuyển từ văn bản thơ tự sự thành văn bản truyện. GV có thể chọn các văn bản thơ như Nàng tiên ốc (Phan Thị Thanh Nhàn), Đôi bạn (Phạm Hổ)…

Thông qua việc rèn luyện này, HS sẽ nhuần nhuyễn về kĩ năng kết hợp tả và kể để đạt được mục đích là kể chuyện chặt chẽ, có cảm xúc, thuyết phục, hấp dẫn người nghe, người đọc.                            

Tuy nhiên, khi HS tiến hành bài kể chuyện, việc sử dụng các phụ từ, các tình thái từ trong diễn đạt sẽ tạo ra những định hướng nghĩa, thay đổi tiềm năng lập luận của các phát ngôn, đó chính là các tác tử lập luận. Bên cạnh đó, HS cũng phải sử dụng các quan hệ từ, các tổ hợp từ để liên kết các câu, các đoạn văn với nhau đó chính là các kết tử lập luận. Nhờ các phương tiện này câu chuyện có tính mạch lạc hơn, nhất quán hơn về nội dung, ý nghĩa; tăng sức hấp dẫn và thuyết phục với người nghe, người đọc. GV nên rèn kĩ năng sử dụng các tác tử và kết tử lập luận này cho HS thông qua các giờ thực hành xây dựng đoạn văn và bài văn kể chuyện.

  1. KẾT LUẬN

Văn kể chuyện là một thể loại văn nghệ thuật, có đặc trưng thể loại riêng biệt. Xuất phát từ đặc trưng của văn kể chuyện, có thể sử dụng các biện pháp rèn luyện kĩ năng lập luận cho học sinh lớp 4 như: định hướng lập luận qua việc xây dựng và sắp xếp các sự việc để tạo thành cốt truyện; định hướng lập luận qua việc kể lại hành động, ý nghĩ và lời nói của nhân vật; định hướng lập luận qua việc lựa chọn các chi tiết miêu tả cùng chủ đề và sử dụng các từ ngữ cùng trường nghĩa để miêu tả ngoại hình nhân vật. Bên cạnh đó, cũng có thể sử dụng các biện pháp rèn luyện kĩ năng lập luận cho HS như các thể loại khác: định hướng lập luận bằng các tác tử và kết tử lập luận, định hướng lập luận bằng cách sắp xếp vị trí luận cứ và kết luận có chủ hướng, định hướng lập luận bằng việc xây dưng các mô hình đoạn văn, bài văn...Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến các biện pháp rèn luyện kĩ năng lập luận cho HS lớp 4 xuất phát từ đặc trưng của thể loại văn kể chuyện.

PGS. TS. Chu Thị Thuỷ An

(Khoa Giáo dục, Đại học Vinh)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Chu Thị Thủy An, Hồ Thanh Yến (2011), “Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng lập luận trong làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4”, Tạp chí Giáo chức Việt Nam, số 56/2011.
  2. Chu Thị Thủy An, Phạm Thanh Nhiệm (2013), “Thực trạng rèn luyện kĩ năng lập luận trong dạy học văn miêu tả ở lớp 4-5 hiện nay”, Tạp chí Giáo dục, Số Đặc biệt, 8/2013
  3. Chu Thị Thủy An, Võ Thị Ngọc (2014), “Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng lập luận cho học sinh lớp 4 qua giờ Tập làm văn”, Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt, 6/2014.
  4. Đỗ Hữu Châu (2002), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  5. Nguyễn Trí (2000), Dạy Tập làm văn ở tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  6. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) (2012), Tiếng Việt 4, 2 tập, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội. 

Các bạn quan tâm có thể tải xuống bài viết tại đây.