Mậu Tuất sắp sang, chuyện trò cùng nhau về câu đối

  • 05/01/2018 | 20:06 GMT+7
  • 3.668 lượt xem

Câu đối xuất hiện từ lâu ở nước ta với những câu đối viết bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Nhiều bạn chưa biết nhiều về câu đối và không ít bạn cũng muốn chính mình viết ra câu đối. Chuyện trò về câu đối hay thách nhau đối cũng là một thú vui đón Tết.

Nguyên tắc của câu đối

- Câu đối gồm hai câu gọi là hai vế của một câu đối. Câu đầu gọi là vế trên, câu sau gọi là vế dưới. Chữ cuối vế trên là thanh trắc, chữ cuối vế dưới là thanh bằng. Nếu người khác làm một vế để người kia đối lại thì vế đầu gọi là vế ra hay vế thách, vế sau gọi là vế đối.

- Theo xuất xứ Trung Quốc thì khi treo câu đối thì người ta thường treo dọc, bên phải là vế trên, bên trái là vế dưới. Tuy nhiên theo cách đọc của chúng ta thường từ trái sang phải (ngược với Trung Quốc) nên nhiều nhà treo ngược lại. Đôi khi báo chí không trình bày dọc mà lại trình bày ngang thì vế trên ở trên, vế dưới ở dưới.

Chúng ta hay treo theo cách đọc từ trái sang phảiChúng ta hay treo theo cách đọc từ trái sang phải
 

- Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối được gọi là chỉnh đối hay đối cân:

Đối ý: hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành 2 câu sóng nhau.

+ Đối chữ: Đối thanh là thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại. Đối loại là từ loại tương ứng ở hai vế phải như nhau, nghĩa là: danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính từ, số từ đối với số từ, đại từ đối với đại từ, thành ngữ đối với thành ngữ, từ Hán Việt đối với từ Hán Việt,...

- Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau:

+ Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống.

+ Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn. 

+ Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có: Lối câu song quan: là những câu 6 đến 9 chữ, đặt thành một đoạn liền; Lối câu cách cú: là những câu mà mỗi vế chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài; Lối câu gối hạc hay hạc tất: là những câu mỗi vế có 3 đoạn trở lên.

Một câu đối thường nhắc đến mỗi dịp Tết ngày xưaMột câu đối thường nhắc đến mỗi dịp Tết ngày xưa

Câu đối được dùng những khi nào?

- Câu đối mừng:làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới...

+ Trên đôi lộc bình của Bộ Nội vụ tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có ghi đôi câu đối mang ý nghĩa thật sâu xa, đó là:

Tâm sáng Đảng tin, đời trường thọ
Trí cao, Dân mến, sử lưu danh.

+ Mừng thọ:

Tuổi tác lên cao, phúc lớn cháu con còn hưởng mãi 
Tâm hồn toả rộng, tình sâu thôn xóm vẫn nuôi hoài

+ Mừng tân gia:

Cửa rộng, nhà cao, thuận vợ thuận chồng bền phúc lộc
Trai tài, gái giỏi, mau con mau cháu vững an khang 

+ Câu đối của Cụ Nguyễn Khuyến về đám cưới:

Giàu có thiếu gì tiền, đi một vài quan không phải lẽ

Sang không thì ra bạc, gửi năm ba chữ gọi là tình

+ Mừng đám cưới của đôi bạn lớn tuổi mới lập gia đình:

Hai họ đoàn viên, dâu thảo rể hiền mừng song hỷ 
Một đời hạnh phúc, vợ vui chồng sướng xoá độc thân 

+ Mừng thi đỗ:

Tỷ lệ chọi cao đã vượt vũ môn sao giỏi thế?
Niềm vui chờ mãi nay nghênh khoa bảng thật tài thay! 

Câu đối thể hiện bằng thư phápCâu đối thể hiện bằng thư pháp

- Câu đối phúng: làm để viếng người từ trần.

+ Cụ Phan Bội Châu có để lại đôi câu đối ghi ở mộ tổ họ Phan - Hưng Tây (Nghệ An) như sau:

Địa phát đồng thời tam Tiến sĩ (Đất phát đồng thời ba Tiến sĩ)

Gia truyền nhất bản vạn nhi tôn (Nhà truyền một cội vạn cháu con)

Thần vị họ Phan thờ 3 vị Tiến sĩ là: Phan Nhân Thọ, Phan Sư Kinh và Phan Nhân Lục

Nhà yêu nước, chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu (1867 – 1940)Nhà yêu nước, chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu (1867 – 1940)

+ Cụ Phan Bội Châu có câu đối viếng bà Hoàng Thị Loan (1868 - 1901)

Hai chục năm đầu gối tay kề, nghĩa vợ tình chồng gương sáng mãi;

Mấy bạn hiền bút nghiên khuya sớm, sân Trình cửa Khổng bảng vàng tươi.

+ Ông Hồ Cơ, từng là Hiệu trưởng trường Trung học Nguyễn Nghiêm, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, tiếp tục dạy học, làm báo, làm xuất bản rồi về hưu viếng Đại tướng:

Văn lo vận nước Văn thành Võ

Võ thấu lòng dân, Võ hoá Văn

+ Học trò viếng Thầy:

Một đời phấn trắng bảng đen, lên cõi tiên vạn niềm thương tiếc
Hai ngả trò ngoan thầy giỏi, tiễn sư phụ ngàn nỗi nhớ nhung 

+ Câu đối của nhà thơ Nguyễn Khuyến khóc vợ:

Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng, tất tưởi chân nam chân xiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc. 
Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa, gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm?

+ Câu đối Cụ Nguyễn Khuyến viết giúp một người phụ nữ (làm nghề thợ nhuộm) khóc chồng:

Thiếp kể từ lá thắm xe duyên, khi vận tía lúc cơn đen, điều dại điều khôn nhờ bố đỏ.
Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại, vợ má hồng con răng trắng, tím gan tím ruột với ông xanh.

+ Câu đối của Cụ Nguyễn Khuyến khóc con là Nguyễn Hoan, đỗ phó bảng và làm tri phủ Kiến Xương (Thái Bình) bị bệnh chết:

Bảng vàng bia đá nghìn thu, tiếc cho người ấy

Tóc bạc da mồi trăm tuổi, thiệt lắm con ơi!

+ Câu đối Cụ Nguyễn Khuyến viết hộ người con rể khóc ông bố vợ, lúc ông bố vợ chết mới thọ được 68 tuổi:

Khi ông sống, ông đẻ anh, ông đẻ chị, ông đẻ vợ tôi, nay được sáu tuần thêm tám lẻ

Giờ ông chết, ông bỏ cửa, ông bỏ nhà, ông bỏ bà lão, ai ngờ một phút hoá trăm năm

+ Câu đối viếng người Thợ Rèn chết trẻ, để lại vợ góa con côi:

Nhà cửa để lầm than, con thơ dại lấy ai rèn cặp

Cơ đồ đành bỏ bễ, vợ trẻ trung lắm kẻ đe loi

- Câu đối Tết: Có thể làm để mừng nhau treo trong nhà ngày Tết hoặc cảm nghĩ về Tết, về một năm đã qua.
+ Câu đối của Cụ Nguyễn Khuyến:

Chúng nó dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó
Ông đây khôn bất trị, rượu say túy lúy lại nằm mèo

Tết đến, rượu ngon đưa mấy chén
Xuân về, bút mới thử vài trang

Tối ba mươi, nghe pháo nổ đùng, ờ ờ Tết

Sáng mùng một, chạm nêu đánh cộc, à à Xuân

+ Câu đối của Thầy Văn Như Cương tiễn năm Tý đón năm Sửu:

Năm chuột qua, cháy nhà vẫn không ra mặt chuột
Tết trâu đến, gảy đàn liệu có lọt tai trâu

Hình ảnh đẹp ngày XuânHình ảnh đẹp ngày Xuân

+ Câu đối cảnh Tết:

Câu đối đỏ treo lên, gia tộc ngắm nhìn: Vui! Tết đến!
Gốc đào phai đặt giữa, cháu con khen ngợi: Tuyệt! Xuân sang!

+ Câu đối tặng quan tham Tết Mậu Tuất:

Lò rực lửa hồng, dù có củi tươi thì cũng cháy
Chuột chui hang cụt, chớ hòng thân bẩn sẽ không chôn

+ Câu đối Tết cảnh nhà nghèo:

Tiền thưởng nhỏ nhoi cộng với lương còi, lo Tết đến 
Cỗ bàn ngồn ngộn nhân thêm rượu mạnh, mệt Xuân sang

+ Câu đối tiễn năm Sửu đón năm Dần của Thầy Nguyễn Tài Đại cùng Thầy Lê Thống Nhất đố nhau làm:

Đón Tết Mậu Dần, quan nhũng, quan tham, ăn như hổ càng vênh mặt hổ
Tiễn năm Đinh Sửu, thằng gian, thằng lận, béo hơn trâu quen thói đầu trâu

(Nguyễn Tài Đại)

Cắm cổ kéo cày, trâu đấy nhọc nhằn sao vẫn Sửu
Nhe răng nhai thịt, hổ kia vênh váo lại chưa Dần

( Lê Thống Nhất)

+ Câu đối tiễn năm Dậu đón năm Tuất

Gà gáy ngoài sân, tạm biệt cối xay tìm hạnh phúc
Chó mừng trước ngõ, loanh quanh bờ giậu giữ an vui   

+ Câu đối treo nhà giáo viên tiểu học:

Khổ tứ, lao tâm, nét chữ truyền trò theo cái đẹp 

Nằm gai, nếm mật, lời cô dạy trẻ nghĩ điều hay

- Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ.

+ Câu đối thờ Tuệ Tĩnh ở đền Bia:

Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái Lĩnh

Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm Giang

+ Câu đối khắc ở chùa Diệu Đức, Huế:

Tùng thanh, trúc thanh, chung khánh thanh, thanh thanh tự tại.

Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không.

- Câu đối tức cảnh tả thực: Thường gặp trong các bài thơ Đường luật

+ Nữ sỹ Hồ Xuân Hương vịnh cảnh khi ngã:

Giơ tay với thử trời cao thấp

Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài

+ Câu đối của Cụ Nguyễn Khuyến tức cảnh quê mình (có thêm nói lái):

Đem đỗ cống đút vào cống Đỗ

Lấy mồi câu ném xuống cầu Môi

+ Câu đối về nhà giáo:

Nghèo cho sạch, rách cho thơm, vẫn dạy học trò từng đạo lý 
Chí phải bền, tâm phải sáng, còn khuyên đồng nghiệp mỗi gian nan

- Câu đối trào phúng:Làm khi vui hay trêu chọc một ai, một điều gì đó.

+ Câu đối tặng một người chột mắt mới đỗ khoa thi võ:

Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.

Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi.

+ Câu đối Cụ Nguyễn Khuyến tặng học trò đi làm quan cho giặc:

Hay thật là hay đáo để ! Bảo một đàng quàng một nẻo;

Thôi thế thời thôi cũng được ! Phi đằng nọ tắc đằng kia.

Một số giai thoại hay về câu đối

- Giai thoại về vế thách đối của Nữ sỹ Đoàn Thị Điểm

Hồng Hà Nữ sỹ Đoàn Thị Điểm (1705-1746)Hồng Hà Nữ sỹ Đoàn Thị Điểm (1705-1746)

Người ta kể rằng, khi nữ sỹ Đoàn Thị Điểm đang tắm thì Trạng Quỳnh đến vỗ vào cánh cửa. Nàng bèn đọc một vế và thách Trạng Quỳnh đối lại. Câu của nữ văn sỹ là:

Da trắng vỗ bì bạch

Rất khó cho Trạng Quỳnh vì theo từ Hán Việt thì "Bì bạch" cũng là "Da trắng". Có người còn bình luận: "Da trắng" là tay nàng còn "Bì bạch" vừa là tiếng động, là âm thanh do động từ "vỗ", lại vừa là đùi nàng (?)

Vế ra rất hay nên lưu truyền nhiều trong dân gian và có rất nhiều người đã tìm cách đối lại. Còn Trạng Quỳnh hình như không đối kịp và đối kịp thì cũng đang có nhiều tranh luận.

Xin đưa ra một số vế đối lại để các bạn bình phẩm:

Rừng sâu mưa lâm thâm; Biển Tây có hải âu; Lên núi gặp Thượng Sơn; Mực đen dính Mặc Huyền; Trời xanh mầu Thiên thanh; Bảy xanh la thất thanh;...

Nếu yêu cầu đối lại chữ đối với mầu sắc "trắng" hay "bạch" thì 3 vế đầu tiên sẽ bị loại ngay. Chỉ còn 3 vế sau là ổn hơn. Cùng nghe nói vế "Rừng sâu mưa lâm thâm" là của nhà ngôn ngữ Nguyễn Tài Cẩn.

- Giai thoại về Cụ Nguyễn Khuyến

Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835 - 1909)Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835 - 1909)

Ở trong vùng nông thôn đồng chiêm trũng ấy, có một anh làm nghề coi chợ, còn gọi là khán thị. Nhờ cái vị thế coi chợ, vợ chồng anh ta còn buôn bán thêm, kiếm được khá, chẳng bao lâu xây được căn nhà to, ngự sát chợ lại gần sông. Tòa nhà của anh ta chiếm luôn cả ngôi nhất và ngôi nhì, vậy thì không có lý do gì lại không tổ chức một bữa liên hoan thật xôm mừng nhà mới. Mặc dù anh ta chỉ biết lõm bõm dăm bảy chữ nho có tính thông dụng, nhưng trong tiệc liên hoan mừng nhà anh ta lại muốn chứng tỏ cho mọi người biết thân phận anh ta đã thay đổi, không còn thuộc hàng thứ dân cấp thấp như xưa nữa. Anh ta tìm đến Vườn Bùi xin cụ Nguyễn Khuyến thửa cho một cặp câu đối. Cụ Tam ngyên nhận lời, hẹn hôm sau đến lấy. Anh ta về nhà khoe với vợ, bảo vợ chuẩn bị tiền tạ lễ cụ Tam. Chị vợ mù tịt chữ nho nên muốn thửa một cặp câu đối chữ nôm cho dễ hiểu. Sau một hồi tranh cãi không ngã ngũ, không ai chịu ai, vợ chồng anh ta cùng kéo nhau đến gặp cụ Tam nguyên. Nghe họ tranh nhau trình bày mấy câu, cụ Tam nguyên đã hiểu ra vấn đề, cụ xua xua tay: "Thôi thôi, thửa câu đối cho nhà mới mà cứ cãi nhau như xát ốc thế này thì dông lắm, gở lắm! Để ta chiều cả hai, viết một bên nho, một bên nôm, được chưa nào?" Rồi cụ viết:

一近市二近江此地可丰佳辟屋 

(Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa tích tằng xưng tị ốc)

Giầu ở làng, sang ở nước, nhờ trời nay đã vểnh râu tôm

Vế trước, bằng chữ Hán, ca ngợi cái thế "phong thủy" đẹp của ngôi nhà. Vế sau, bằng chữ nôm, ca ngợi cái địa vị mới của anh khán thị: Thị (chữ nho, tức chợ) đối với làng (chữ nôm). Giang (chữ nho, tức sông) đối với nước (chữ nôm). Địa (chữ nho, tức đất) đối với trời (chữ nôm). Tích tằng (chữ nho, tức xưa từng) đối với đã (chữ nôm). Đúng là chữ Hán chữ nôm cứ đối nhau chan chát y như như hai vợ chồng đấu khẩu với nhau. Nhưng phải đến ba chữ cuối Xưng tị ốc (Hán) đối với Vểnh râu tôm (nôm) thì toàn bộ cặp câu đối mới "thăng hoa" hết ý nghĩa: Cụ Tam đã khái quát đắc địa, trúng phóc cái khung cảnh nhà cửa, phong thái trưởng giả học làm sang của cặp vợ chồng mới giầu xổi! Xưng tị ốc: do câu “”Đường Ngu chi thời ốc nhi phong”. Ý nói đời Đường Ngu, trong nước có nhiều người hiền, nên nhiều nhà ở liền vách nhau được khen thưởng. Có thuyết khác lại nói trường hợp này Nguyễn Khuyến viết mừng một ông chánh tổng trước bị cách chức, sau được phục sự và làm nhà mới.

- Giai thoại về tài ứng đối của Mạc Đĩnh Chi

Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi (1280 - 1346)Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi (1280 - 1346)

Giai thoại về tài ứng đối của Mạc Đĩnh Chi thì nhiều vô kể. Tương truyền, có lần Mạc Đĩnh Chi dẫn đầu đoàn sứ bộ nước Đại Việt sang nhà Nguyên. Bất ngờ hôm ấy trời lại mưa, đoàn sứ bộ đến cửa ải chậm một ngày so với ngày hẹn trước. Viên quan giữ cửa ải không cho mở cửa để sứ bộ qua, cho dù Mạc Đĩnh Chi đã nói mãi. Liền đó, từ trên cửa ải một vế đối được thả xuống thách đối lại, nếu không đối được sẽ "đứng ngoài mà khóc". Vế đối viết: "Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan" (Nghĩa là: Qua cửa ải trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa quan). 

Vế đối quá hiểm hóc, rất khó đối lại, bởi chỉ 11 chữ mà có tới bốn lần nhắc lại chữ "quan", còn chữ "quá" được nhắc tới ba lần. Tuy nhiên, không thể im lặng, vì đây là chuyện thể diện quốc gia. Suy nghĩ một lát, ông ứng khẩu: "Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối" (Nghĩa là: Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, mời tiên sinh đối trước). Vế đối lại cũng dùng tới bốn chữ "đối" trong vế, còn chữ "tiên" được nhắc 2 lần. Ý đối khá chỉnh và ứng đối lại rất nhanh, khiến quan quân phải chịu mở cửa ải để Đĩnh Chi và đoàn sứ bộ đi qua.

Tới kinh đô nhà Nguyên, để "nắn gân" quan trạng Đại Việt, Vua Nguyên đọc một vế đối:

"Nhật: hỏa; vân: yên; bạch đàn thiêu tàn ngọc thỏ".

(Nghĩa là: Mặt trời (là) lửa, mây (là) khói; ban ngày đốt cháy vầng trăng).

Hiểu rõ dụng ý kẻ cả nước lớn và cả bóng gió đe dọa của Vua Nguyên, Mạc Đĩnh Chi ứng khẩu ngay:

"Nguyệt: cung; tinh: đạn; hoàng hôn xạ lạc kim ô".

(Nghĩa là: Trăng (là) cung, sao (là) đạn; chiều tối bắn rơi mặt trời). Vế đối chẳng những rất chỉnh về niêm luật mà còn tỏ rõ được khí phách của người dân nước Việt, không run sợ và sẵn sàng giáng trả lại kẻ thù. Vua tôi nhà Nguyên nhìn nhau, rồi Vua Nguyên đích thân hạ bút phong "Lưỡng quốc Trạng Nguyên". 

- Giai thoại về tài đối của Lê Quý Đôn

Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784)Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784)

Một hôm, một vị quan bên Liêu Xá đến thăm ông Lê Trọng Thứ. Vị quan có nghe tiếng cậu bé con quan Thượng Lê rất hay chữ, muốn trực tiếp thử tài. Nể tình, ông Lê Trọng Thứ cho gọi Lê Quý Đôn tới.

Ông khách nói: "Ta nghe cháu còn bé mà đã hay chữ, nhà cháu gần ngã ba sông, vậy ta ra vế đối là:

"Tam xuyên (三川)!"

Vế đối giản dị mà hóc búa, chữ tam (三) có ba nét sổ ngang nhưng dựng lên, thành ba nét sổ đứng và là chữ xuyên(川). "Tam xuyên" (三川) lại có nghĩa "ba con sông". Lê Quý Đôn chưa đáp ngay mà cứ trân trân nhìn ông khách có mang cặp kính. Ông khách rất vui vì tìm được vế đối rất hiểm, liền hỏi: "Sao, có đối được không, cháu bé?"

Lê Quý Đôn lễ phép thưa: "Dạ, cháu xin đối là:

"Tứ mục (四目)!".

"Tứ mục" (四目) có nghĩa "bốn con mắt". Chữ đối lại thật chuẩn, chữ "tứ" (四) viết quay dọc lại, cũng là chữ "mục" (目).

Ở đây mỗi vế câu đối chỉ có 2 chữ!

- Giai thoại về "nhà câu đối" Nguyễn Tài Đại

Thầy Nguyễn Tài Đại (1921 - 2005)Thầy Nguyễn Tài Đại (1921 - 2005)

Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, thầy Nguyễn Tài Đại là Trưởng ty giáo dục Nghệ An. Thầy được ty giáo dục phân cho 2 gói trà, 2 bao thuốc lá Tam Đảo và 2 cân thịt lợn (là tiêu chuẩn Trưởng ty), đó là tiêu chuẩn Tết năm 1970 của thầy. Thầy có ngay câu đối Tết:

Trà hương hai gói, thuốc lá hai bao, thịt lợn hai cân, ừ cũng Tết!

Thược dược một bông, hoa đào một lọ, rượu mùi một chén, úi chà Xuân!

Nói đến tài đối đáp của thầy, không thể nào không nói tới "sự kiện" thầy "trả nợ" câu đối trên báo Lao động. Đó là vào năm 1989, báo Lao động có đăng một vế thách đối:

"Sai đâu sửa đấy, sai đấy sửa đâu, sửa đâu sai đấy”.

Đây là một vế thách đối hắc búa, mấy năm liền chưa ai đối được.

Mãi sau tám năm (1997), thầy được nghe Tỉnh ủy Nghệ An nói chuyện về tình hình kinh tế, thu chi ngân sách của tỉnh nhà. Thế là sau khi nghe nói chuyện thời sự, thầy sáng tác ngay vế đối lại của thầy như sau:

"Lấy thu bù chi, lấy chi bù thu, bù thu lấy chi?"

Cái tuyệt tác của vế đối lại của thầy ở chỗ nghĩa bóng của nó, thầy đã vận dụng ngôn ngữ Nghệ Tĩnh: Bù chi-có nghĩa là bù sự chi tiền, còn có nghĩa như bù cái gì, (ngôn ngữ Nghệ Tĩnh), lấy chi- lấy sự chi tiền còn có nghĩa là lấy cái gì mà bù thu, (ngôn ngữ Nghệ Tĩnh), muốn bù thu thì lấy cái gì mà bù ...?! Vế đối của thầy khiến mọi người đều trầm trồ thán phục.

- Giai thoại về Thầy Nguyễn Tài Đại và Thầy Văn Như Cương

Thầy Văn Như Cương (1937 - 2017)Thầy Văn Như Cương (1937 - 2017)

Thập kỷ 80, Thầy Nguyễn Tài Đại ra một vế đối vui bằng những cặp từ lái, nói về khó khăn của thầy giáo thời bao cấp:

"Thầy giáo tháo giày, tháo cả ủng, thủng cả áo, lấy giáo án dán áo". 

Rất nhiều người đã loay hoay nghĩ để đối lại nhưng Thầy Văn Như Cương ra vế đối nhanh nhất và hay nhất:

"Nhà trường nhường trà, nhường cả hoa, nhòa cả hương, lĩnh lương hưu lưu hương".

Nhà giáo có đôi câu đối mà mỗi Thầy là tác giả của một vế:

Thầy giáo tháo giày, tháo cả ủng, thủng cả áo, lấy giáo án dán áo
Nhà trường nhường trà, nhường cả hoa, nhòa cả hương, lĩnh lương hưu lưu hương

- Giai thoại về câu đối "vợ cả, vợ hai"

Chúng ta chắc đều đã nghe câu: "Vợ cả, vợ hai, cả hai vợ đều là vợ cả!". Câu này chơi chữ "cả" với nghĩa khác nhau. Có nhiều giai thoại về sự ra đời của câu này. Trong đó có giai thoại:

Một anh nông dân ở làng nọ có hai vợ. Do khéo đối xử và sắp xếp việc nhà, việc cửa, nên nhìn bề ngoài người ta thấy gia đình anh tương đối thuận hòa, yên ổn. Thế nhưng, chuyện chồng chung không ai dễ chịu ai. Về mặt tâm lý, anh chồng vẫn nể sợ người vợ cả, trong khi tình cảm yêu thương thì lại nghiêng về người vợ nhỏ nhiều hơn, bởi lẽ ngoài sức trẻ trung, và chút ít nhan sắc, chị ta còn là con gái của một ông đồ hay chữ nhất vùng. Một chiều nọ, nhân buổi rảnh rỗi việc đồng áng, ba vợ chồng ngồi bàn chuyện. Nhân không khí vui vẻ, cởi mở, anh chồng đưa ra đề nghị: "Anh ta ra một câu đối, nếu ai đối được thì tối nay, anh sẽ "vô buồng" người ấy". Cả hai bà vợ đều đồng thanh tán thành.

Anh chồng bèn đọc:

Vợ cả vợ hai, cả hai vợ đều là vợ cả.

Cô vợ nhỏ khiêm tốn nhường lời cho người vợ cả đối trước. Suy nghĩ một hồi, chị vợ lớn lắc đầu: "Thôi dì Hai nó nói trước đi!"

Người vợ nhỏ bèn ứng khẩu đáp: 

Con dòng, con giống, dòng giống con mới thiệt con dòng.

Câu đối khá chỉnh. Anh chồng vỗ đùi khen hay. Nhưng chưa dứt lời, thì bà vợ lớn mới nổi "máu Hoạn Thư", đứng dậy túm lấy áo ông chồng, xỉa xói: "Thôi, tui biết tỏng cái mẹo của các người rồi, đừng giả vờ qua mắt tui, để tối vô buồng "con mẻ" chớ gì. Tui nói cho mà biết, tui mới là vợ chánh, mọi quyền hành ở nhà nầy đều do tui, tui chưa ưng thuận thì ông đừng hòng bước qua khỏi cửa buồng của dì ấy, chớ đừng nói “cả hai đều là vợ cả" nhen! Ông nghe rõ chưa?" Anh chồng đang hứng, bỗng yểu xìu một cách thảm hại. Lúc đó, bên hàng xóm có 2 nhà Nho hay chữ là Nguyễn Đỗ Mục và Dương Bá Trạc đang ngồi đàm luận chuyện văn chương. Có thuyết khác lại cho rằng vế ra và vế đối thứ nhất đều do 2 vị sĩ phu này trông thấy tình cảnh như vậy mà đối đáp với nhau, còn vế đối của người vợ lẽ vẫn do người đó đối khi nghe thấy 2 ông đọc như vậy.

Ông Nguyễn Đỗ Mục chợt nảy ra vế đối khác:

Quan thừa, quan thiếu, thừa thiếu quan sao gọi quan thừa.

Quan Thiếu ở đây ám chỉ Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu (1872 - 1946), con trai thứ của Hoàng Cao Khải. Vì có hàm Thái tử Thiếu bảo, nên được gọi là cụ Thiếu Hà Đông.

Ông Dương Bá Trạc cũng có câu đáp lời: 

Con nuôi, con đẻ, nuôi đẻ con há đợi con nuôi.

Có một vế đối không rõ của ai:

Con đầu, con một, một con chẳng gọi con đầu.

- Giai thoại về câu đối của nhà thơ Thanh Tịnh

Nhà thơ Thanh Tịnh (1911 - 1988)Nhà thơ Thanh Tịnh (1911 - 1988)

+ Thanh Tịnh ngoài vai trò là 1 thi sĩ ông còn là một "cây"  tiếu lâm, về câu đố, câu đối. Người xứ Nghệ thường hay đọc:

Đến xứ Nghệ, ra Quán Hành, uống rượu gừng, nói chuyện cà riềng cà tỏi

Nhiều người lầm tưởng câu đối hóc búa ấy là của một ông đồ nào mà ít người biết là của Thanh Tịnh chợt nghĩ trong chuyến vào công tác lúc Nghệ An còn là tuyến lửa, trong quán phở ở Quán Hành, một địa điểm cách Vinh 10 km về phía bắc. Sau giải phóng Miền Nam, ông có dịp công tác trong Đồng Nai và chính ông đã tự đối lại câu đối này khi trong thời gian đó đang bị bỏ ngỏ:

Vào Đồng Nai, nhớ Kỳ Lừa, ăn thịt chó, ngồi vui tán vượn, tán hươu

Vế trên đầy những tên gia vị nghệ, hành, gừng, riềng, tỏi, của dưới đối với các tên thú nai, lừa, chó, vượn, hươu

+ Đối đáp với nhà văn Xuân Thiều:

Một thời, ở tạp chí Văn nghệ, có tác giả Nguyễn Đình làm thơ trào phúng, Nguyễn Đình Thi viết truyện ngắn, thơ trữ tình rất hăng say.

Nhà văn Xuân Thiều ra vế đối: 

Nguyễn Đình thi với Nguyễn Đình Thi

Nhà thơ Thanh Tịnh đối lại: 

Trần Thanh địch cùng Trần Thanh Địch

Tên của hai người ở đầu vế đối cùng âm với hai âm tiết đầu trong tên ba âm tiết của hai người ở cuối vế đối. "Thi”, “địch", hai động từ, cùng âm với “Thi”, “Địch” trong Nguyễn Đình Thi, Trần Thanh Địch, tên riêng.

+ Lần khác, Thanh Tịnh ra và Xuân Thiều lại đối:

Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà thơ, mấy nhà mà không nhà ... ở. (Thanh Tịnh)

Cửa vào, cửa sổ, cửa bàn, cửa tủ, nhiều cửa sao vẫn thiếu cửa ... đời.(Xuân Thiều)

+ Câu đối viết cho Thi Gia Vương Trọng:

Một lần, nhà thơ Thanh Tịnh đến nhà Vương Trọng chơi, nhìn cảnh nhà thơ Vương Trọng đang vui vẻ bón cơm cho cậu con trai ba tuổi, ông bật ra vế đối:

Bố cho con ăn, bố cười, con cười!

Con cho bố ăn, con khóc, bố khóc!

+ Thời bao cấp, hàng tiêu dùng khan hiếm, thường mỗi khi có mặt hàng nào đó, phải tổ chức phân phối theo chỉ tiêu đầu người từng cơ quan. Khi về đến cơ quan, lại phải tiến hành bình bầu, nhận xét xem phân cho ai là đúng. Không bình bầu nổi thì chọn phương án “bốc thăm”, may ai nấy được. Một lần bốc thăm như thế, nhà thơ Xuân Sách và nhà văn Nguyễn Thị Như Trang cùng bốc được một chiếc màn.... đôi! Vốn bực mình về cái thói cửa quyền của cơ quan phân phối, nhân chuyện này, Thanh Tịnh buông một câu: Cái cứt gì cũng phân, mà phân thì như cứt!

Câu đối có hàm chứa từ ngữ tục tĩu hoặc ý nghĩa dâm dục thấp hèn đều có thể tồn tại hấp dẫn nếu nó có độ thanh lẫn trong tục. Mà độ thanh này là độ khó độ lắt léo hợp lý (biểu hiện của thuộc tính văn học dân gian câu đối) được tỷ lệ cao trong kết cấu của câu đối. Vế ra "cái gì cũng phân mà phân thì như cứt" có vài điểm đắt giá của tính hóc búa như: Hán Việt "phân"="cứt"; "phân" vừa là danh từ vừa là động từ (phân chia). Nghĩa là ít nhất câu đối trên đã có hai vấn đề khó thuộc văn học so với một vấn đề là chữ tục tĩu nên yếu tố "thanh" mạnh hơn "tục". Ta chỉ cần căn cứ vào tỷ lệ "thanh" cao hơn "tục" thì ta có thể cảm nhận được giá trị của câu đối. Một câu quá tục tĩu nhưng hàm chứa độ khó của câu đối nhiều thì càng tục vậy mà lại càng hay vì thuần tục vốn không hay.

Vế đối: "Quan khỉ đều thích hầu nhưng hầu là tựa khỉ "

(Thiền Long Nguyễn Phước Thạnh) ("hầu"="khỉ"; "hầu" vừa là danh từ vừa là động từ "hầu hạ").

Vế đối khác: Thứ chó gì cũng cẩu, mà cẩu thì như chó! 

(Hoài Anh Võ Quang Thạch) (Câu đối nói về thực trạng ở 1 doanh nghiệp: Một ông chủ mua xe cẩu về làm tất tần tật những việc khuân vác nặng nhẹ nên công nhân bốc vác thất nghiệp, nhưng do tay nghề người điều khiển cẩu hàng còn kém nên làm việc thường hư sự).

- Chuyện vui về câu đối

Một ông nọ có tính thích làm câu đối, hằng ngày ông thường đặt ra cho mình phải nghĩ ra được một câu.

Hôm đó đã là cuối buổi chiều 30 Tết, ông vẫn chưa nghĩ ra được một câu nào, trong lúc đang mải suy nghĩ thì bỗng thấy một con chó sủa rất hăng về phía ông. Ông tức quá, nhưng cũng chợt nảy ra được một câu:

"Chiều ba mươi con chó sủa".

Sáng hôm sau trong lúc đang ngủ nghe thấy tiếng vợ ho nhiều quá nghĩ mà thương, bèn viết luôn:

"Sáng mồng một vợ tôi ho".

Rồi ngay sau đó, đọc lại cả hai vế của câu đối cho vợ nghe, vợ bèn tức giận lôi chồng ra định làm to chuyện vì dám coi vợ như một con chó.

Lúc này ông ta phải vội giải thích:

- "Sáng" đối với "chiều", "mồng một" đối với "ba mươi", "vợ" đối với "con", bà thấy có được không?

Bà vợ tỏ ra cũng xuôi xuôi. Ông nói tiếp:

- "Chó sủa" đối với "tôi ho". Đấy bà thấy không, tôi ví tôi ho với con chó sủa đấy chứ…

Đến đây bà vợ chỉ còn biết cười…

Câu đối khắc tại Hiệu Yên Xuân thời Pháp thuộc:

Năm 1922, ở Yên Xuân có một số người sớm giác ngộ và có tư tưởng đấu tranh chống lại bọn cường hào và quyết định cùng nhau thành lập nhóm "Tâm giao". Nhóm Tâm giao mở hiệu thuốc Bắc tại nhà ông Phan Hoàng Thân (do ông Hoàng Khắc Bạt chủ trì) nhằm mục đích vừa chữa trị bệnh cho dân, vừa gây dựng nguồn quỹ để hoạt động. Sau khi xây dựng xong, ngôi nhà được các hội viên nhất trí đặt tên là Hiệu Yên Xuân, bởi phần lớn hội viên là người của hai làng Dương Xuân và Yên Lĩnh. Bên ngoài là một cửa hiệu kinh doanh thuốc Bắc và các mặt hàng thiết yếu, bên trong của Hiệu Yên Xuân là nơi tuyên truyền, giác ngộ và giáo dục tư tưởng yêu nước, nuôi dưỡng nguồn cán bộ cho cách mạng. Câu đối được dán ở quán giải khát:

Bán rượu, bán trầu, không bán nước

Buôn trăm, buôn chục, chẳng buôn quan

"Bán nước" tức bán nước uống, cùng âm với ngữ cố định "bán nước" (phản bội tổ quốc); "buôn quan" tức buôn một lượng hàng hoá có giá trị một quan tiền (hoặc buôn bán trong phạm vi một quan tiền), cùng âm với "buôn quan" (mua bán chức tước).

Trên cơ sở của câu đối này, trong một số tác phẩm văn học đã có những câu đối mới, xin trích đoạn trong tác phẩm "Tuổi thơ dữ dội" của nhà văn Phùng Quán:

Mậu Tuất sắp sang, chuyện trò cùng nhau về câu đối

Đoạn trích "Tuổi thơ dữ dội" của nhà văn Phùng QuánĐoạn trích "Tuổi thơ dữ dội" của nhà văn Phùng Quán

- Câu đối thời đánh Mỹ

+ Câu đối nhân dịp tổng tấn công tết năm 1968 (Mậu Thân):

Pháo gác trời mây trừ giặc Mỹ

Xe băng tuyến lửa mở đường Xuân

+Báo Tết "Hà Nội mới" năm 1973 có đôi câu đối mang chủ đề kháng chiến chống Mỹ cứu nước như sau:

Lung linh én bạc phanh thây pháo đài bay ung dung đón Tết

Rực rỡ rồng vàng xé xác bê năm hai đĩnh đạc vào Xuân

 

Cả nước tưng bừng sử mới thêm trang đánh Mỹ

Hai miền tấp nập cầu xưa nối nhịp mừng Xuân

 

Tổng hợp từ nhiều tư liệu.

BigSchool: Rất mong các bạn gửi về những câu đối về nghề giáo và mừng Tết Mậu Tuất.

Ý kiến bạn đọc:

Bạn hãy Đăng nhập để gửi ý kiến của mình.

Đề thi mới nhất

Toán học & kết nối tuần 3

Môn Toán học - Lớp 8

Tống Phước Hiển

53 lượt thi

Toán học & kết nối tuần 3

Môn Toán học - Lớp 9

Tống Phước Hiển

50 lượt thi

Toán học & kết nối tuần 3

Môn Toán học - Lớp 6

Tống Phước Hiển

72 lượt thi

Toán học & kết nối tuần 3

Môn Toán học - Lớp 7

Tống Phước Hiển

73 lượt thi

Xem thêm