Cần gạt bỏ những ảo tưởng về “năng lực” – GS. Nguyễn Tiến Dũng.

  • 09/01/2017 | 05:42 GMT+7
  • 2.435 lượt xem

BigSchool xin chia sẻ với thầy cô bài viết của GS. Nguyễn Tiến Dũng bàn về việc gạt bỏ những ảo tưởng về năng lực.

Về sự suy sút của nền giáo dục Pháp, theo Laurent Lafforgue

Tôi thỉnh thoảng có giới thiệu về hệ thống giáo dục Pháp, trong đó có nhiều điểm tiến bộ đáng để Việt Nam học tập. Một số bạn đọc có thể hiểu lầm rằng tôi cho rằng hệ thống của Pháp là hoàn hảo. Thực ra thì chẳng có hệ thống nào hoàn hảo. Tuy rằng Việt Nam cần phải trải qua mấy thế hệ nữa và phải đi đúng hướng mới hy vọng đạt được trình độ giáo dục như Pháp hiện tại, nhưng bản thân hệ thống giáo dục của Pháp cũng có những vấn đề nan giải.

Một trong các vấn đề đó là, sự chuẩn bị kiến thức khoa học tự nhiên cho học sinh phổ thông trong mấy thập kỷ qua không những không tiến bộ lên mà có vẻ ngày càng thụt lùi đi.  Có thể nhận thấy rõ ràng điều đó qua một số ví dụ sau. Đề thi tốt nghiệp phổ thông môn toán năm 2014 bị kêu là quá khó (thành cả một sự kiện đăng trên các báo), tuy nhiên theo chính các giáo viên phổ thông thì đề thi này hoàn toàn nằm trong chương trình, và so với các đề thi cách đây 10-20 năm thì không hề khó hơn. Chỉ có điều trình độ của học sinh bị yếu đi khiến cho người ra đề những năm trước cũng có xu hướng ra đề dễ đi, khi quay trở lại mức như cũ thì bị kêu là quá khó. Tỷ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông theo học các môn khoa học tự nhiên ở bậc đại học trong thập kỷ qua bị giảm đi một cách trầm trọng, chỉ còn bằng khoảng 1/3 so với hồi năm 2000. Kiến thức chuẩn bị về toán của các sinh viên theo học các trường kỹ sư hay các khoa tự nhiên ở các đại học tổng hợp cũng giảm đi so với trước, khiến các giáo sư rất lo lắng và cũng phải điều chỉnh chương trình học xuống thấp theo cho sinh viên còn theo kịp. Các trường elite nhất ở Pháp như Ecole Normale Supérieure (ENS) thì có thể vẫn giữ được mức trình độ, tuy nhiên có thay đổi về cấu trúc sinh viên. Theo nhận xét của GS Laurent Lafforgue (giải thưởng Fields năm 2002), nếu như cách đây 20-30 năm, thời bản thân ông ta còn đi học, sinh viên vào học ENS gồm đủ các thành phần gia đình (kể cả những gia đình khiêm tốn, trong đó gia đình của Lafforgue cũng tương đối khiêm tốn), thì ngày nay hầu hết sinh viên ở đó là con nhà của các gia đình trí thức lớn hay rất khá giả, với phần lớn phụ huynh là giáo sư đại học. Lý do, theo ông Lafforgue, là do việc dạy khoa học ở trường không còn được tốt như trước, nên phải là con nhà của những gia đình nào đó mới có điều kiện trau dồi thêm kiến thức để thi đấu lọt vào được ENS chứ hệ thống giáo dục hiện tại đã đang làm mất đi sự “bình đẳng về cơ hội”.

Sự suy sút về khoa học của các học sinh, sinh viên Pháp  là một điềm rất xấu cho nền kinh tế của Pháp trong tương lai. Bởi lẽ, ngày nay, sự phát triển về khoa học và công nghệ chính là động lực chính cho sự phát triển về kinh tế trên thế giới. Nếu thiếu người giỏi về khoa học và công nghệ, thiếu đầu tư thích đáng, thì sức cạnh tranh của nước Pháp trên thế giới sẽ kém dần đi. Và các nhà kinh tế cũng đã dự đoán rằng, chỉ trong vòng 15-20 năm nữa, Hàn Quốc (là một nước đang rất chú trọng đầu tư vào khoa học và công nghệ, với tỷ lệ GDP chi cho nghiên cứu và phát triển trên 4%/năm) sẽ có bình quân thu nhập đầu người vượt Pháp.

Vì sao nước Pháp “nên nông nỗi này”?

Ông Lafforgue, sau khi được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, và có một thời gian ngắn năm 2005 được mời vào Hội đồng giáo dục (Haut Conseil de l’Education) của Pháp, đã dành nhiều thời gian tìm hiểu về “vấn nạn” này, và đã đưa ra các kết luận “trời giáng”, như là gáo nước lạnh, hay nói chính xác hơn là một “bản án”, đổ lên đầu các quan chức giáo dục của Pháp và cả các quan chức ở Viện Hàn lâm Khoa học, khiến cho người ta “sợ” ông đến nỗi ép ông phải từ chức khỏi Hội đồng giáo dục chỉ sau ít hôm ngồi trong đó “do bất đồng tư tưởng”. Tuy Lafforgue trở thành “ác tinh” của Bộ giáo dục, nhưng được rất nhiều người ủng hộ, trong đó có các viện sĩ khác của Pháp như Alain Connes, Jean-Pierre Demailly, … Ông đã cùng các đồng sự viết cả một quyển sách sau vào năm 2007 để phân tích về sự suy sút (mà ông gọi là “délabrement” hay “débacle”) của nền giáo dục Pháp

Laurent Lafforgue, Liliane Lurçat et Collectif, “La débâcle à l’école: une tragédie incomprise”, 09/2007. (Sự “tan vỡ” của trường học: một bi kịch không được thấu hiểu).

Ngoài ra, ông còn trả lời phỏng vấn báo chí, viết nhiều bài báo về vấn đề giáo dục, và có dành cả một trang về giáo dục trên trang web cá nhân ở viện IHES:

http://www.ihes.fr/~lafforgue/education.html

Một trong các nguyên nhân chủ chốt mà Lafforgue đưa ra để giải thích tình trạng suy sút của nền giáo dục Pháp chính là lý thuyết “constructivisme” của  Jean Piaget khi được các nhà chức trách ép sử dụng đã phá hoại hệ thống giáo dục.

Theo cái “constructivisme” (tên mĩ miều là “chủ nghĩa xây dựng”) này, thì thầy giáo mất dần vai trò “truyền đạt kiến thức”, biến thành vai trò “hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu phám phá ra kiến thức”.  Người ta quá chú trọng khía cạnh “tìm tòi sáng tạo” mà coi nhẹ khía cạnh “truyền đạt, luyện tập, tiếp thu bằng cách bắt chước làm theo”, dẫn đến hậu quả là học sinh bị hổng kiến thức, thiếu nền tảng, và những kiến thức đơn giản nay bỗng biến thành phức tạp.

Không chỉ môn toán, mà các môn khác cũng hứng chịu hậu quả nghiêm trong của chủ thuyết của Piaget, người mà một thời được nhiều nơi tung hô như là một nhà cải cách giáo dục lớn của thế giới. Sau đây là một số ví dụ về tai hại của “constructivisme” mà Lafforgue đưa ra:

– Trong môn tiếng Pháp, thay vì dạy chia động từ như ngày xưa, với chủ thuyết “constructivisme” người ta bắt học sinh “quan sát những sự thay đổi trong dạng động từ”. Hệ quả: một tỷ lệ khá lớn học sinh Pháp đến khi vào đại học cũng không biết chia động từ cho đúng!

– Trong môn lịch sử, kiến thức lịch sử trang bị cho học sinh thì hạn chế, nhưng lại đòi hỏi học sinh bình luận về các tài liệu cứ y như là các học sinh đó là các nhà sử học. Kết quả là các “bình luận tư do” đó thực ra là các câu giáo điều đã được viết trước (bởi học sinh có biết gì đâu để mà bình luận). Môn lịch sử được dạy hời hợt đến mức học sinh lẫn lộn về thứ tự thời gian (chronology) của các sự kiện, kể cả các học sinh “khá” PTTH cũng không biết Napoleon và Louis XIV ai sinh trước ai sinh sau!

Trẻ con học một cách tự nhiên là phải học những cái cơ sở, cơ bản, cụ thể trước, rồi dựa vào đó lên cao dần, trừu tượng hoá dần thành các khái niệm phức tạp hơn. Nhưng đi theo “constructivisme” thì người ta làm ngược lại: trừu tượng cao siêu, mà rỗng ruột. Bạn đọc Việt Nam có thể nhận thấy rằng, ở Việt Nam cũng có một số “nhà” giáo dục “nổi như cồn” trên báo chí tung hô Piaget và “sáng tạo” ra các lý thuyết cải cách giả khoa học.

Ngoài ra còn những nguyên nhân khác mà Lafforgue đưa ra, lúc nào có thời gian tôi sẽ  tìm hiểu và giới thiệu thêm (có thể xem chúng theo các đường link từ post này). Ví dụ như xu hướng cực đoan coi trọng kỹ năng  hơn kiến thức (một người chỉ có kỹ năng (compétences) mà không có kiến thức (connaissances) thì thành như là cái robot?!, hay xu hướng “thù địch” với hai môn toán và văn (dù sao cũng là hai môn quan trọng nhất) đến mức dẫn đến tình trạng sinh viên không trình bầy được cái gì rành mạch nên hồn (chưa kể nội dung đúng sai ra sao), v.v.

Tài liệu tham khảo:

http://www.ihes.fr/~lafforgue/textes/SavantsEcole.pdf

(bài báo với các ví dụ lược dịch lại phía trên)

http://www.en-aparte.com/2013/06/28/laurent-lafforgue-mathematicien-leducation-nationale-est-devenue-un-vaste-mensonge/

http://www.linternaute.com/science/divers/interview/06/laurent-lafforgue/laurent-lafforgue.shtml

(Một vài trả lời phỏng vấn báo chí của Lafforgue)

http://www.ihes.fr/~lafforgue/dem/courriel.html

(Thư Lafforgue gửi đến Hội đồng giáo dục)

(Nguồn: http://zung.zetamu.net/2014/09/education-france-laurent-lafforgue/ )

 

*

* *

Lời bình của GS Ngô Bảo Châu:

Một lời cảnh báo cho những người quá sùng bái Jean Piaget. Nước Pháp cũng đã một lần cải cách giáo dục cơ bản và toàn diện, không hướng kiến thức mà hướng về năng lực. Nghe thì không sai, nhưng giáo dục Pháp sau cải cách có vẻ kém đi cả về kiến thức lẫn năng lực.

Đúng là ở VN trẻ con phải học thuộc lòng nhiều quá, phải thay đổi để giờ học bớt tẻ nhạt. Nhưng tôi rất hãi những người muốn trẻ con phải học bằng sáng tạo. Bảng cửu chương thì vẫn phải học thuộc lòng thôi, làm sao mà sáng tạo. Bản thân những bài học thuộc lòng, nhiều khi thật tẻ, cũng gián tiếp trang bị cho trẻ một vài kỹ năng cần thiết, chảng hạn như tính kiên trì.

 

*

* *

Các nhà khoa học giáo dục Việt Nam cũng cảnh báo về điều này:

Rối bời đổi mới chương trình, SGK

 

Cần gạt bỏ những ảo tưởng về “năng lực”

 

Theo Bộ GD&ĐT, một trong những đặc điểm quan trọng nhất của chương trình mới đang được Bộ GD&ĐT bắt tay vào xây dựng. Đó là chuyển căn bản từ tập trung vào trang bị kiến thức, kỹ năng sang phát triển năng lực và phẩm chất người học, đảm bảo hài hòa giữa dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia bày tỏ lo ngại trước nguy cơ việc xây dựng chương trình sẽ đi từ thái cực này sang thái cực khác, khi những nhà làm chương trình quá mải mê chạy đuổi theo năng lực mà xem nhẹ việc trang bị kiến thức cho học sinh.

GS Nguyễn Khắc Phi, nguyên Tổng biên tập NXB Giáo dục cho rằng, dự thảo đề án đổi mới chương trình, SGK của Bộ GD&ĐT cần làm rõ hơn mối quan hệ giữa “kiến thức” và “năng lực” để tránh ngộ nhận, đi tới khuynh hướng cực đoan. Ngay trong phạm vi kiến thức cũng có rất nhiều vấn đề về năng lực.

Gạt “kiến thức” ra khỏi “phạm vi” của năng lực là sai lầm! TS Trần Đình Châu, Chánh Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục nói: “Khi bàn về chương trình, tôi thấy chúng ta chú trọng đến năng lực. Tuy nhiên, năng lực của mỗi người phải được tạo dựng trên nền kiến thức chắc chắn”.

GS Nguyễn Minh Thuyết cũng nhận xét: “Chương trình hiện hành không phải không hướng tới dạy năng lực, nhưng mình thực hiện được điều đó không lại là chuyện khác. Vì thế khi biên soạn chương trình mới, chúng ta đừng hy vọng chỉ nhờ một chữ năng lực mà đảo lộn được tất cả!”.

 

Phân luồng mờ nhạt.

 

Nhiều chuyên gia cũng bày tỏ sự thất vọng với dự thảo đề án khi mà vấn đề phân luồng không được đề cập một cách rốt ráo. Theo GS Phạm Minh Hạc, nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT, lẽ ra sau bậc học giáo dục cơ bản phải tổ chức phân luồng mạnh như nghị quyết 29 yêu cầu.

“Đây là vấn đề suốt 18 năm qua (kể từ năm 1996) chúng ta không thực hiện được. Giờ thêm vài trang về vấn đề này vào đề án cũng sẽ không sợ nghị quyết của Quốc hội dài thêm nhưng nó sẽ rất có ý nghĩa. Học xong giáo dục cơ bản, có em đi vào thị trường lao động, có em đi học nghề – trung cấp nghề, có em học tiếp THPT. Nhưng hiện nay, có tỉnh 90% học sinh học xong THCS lên THTP, hết THPT thì đổ xô thi ĐH, thế cho nên mới có chuyện hơn 20 vạn cử nhân thất nghiệp”, GS Phạm Minh Hạc nói.

GS Văn Như Cương cũng bày tỏ băn khoăn khi trong dự thảo đề án chưa nói rõ giải quyết vấn đề phân luồng ra sao trong khi hiện nay hầu như toàn bộ học sinh tốt nghiệp THPT đều chỉ có một con đường thi vào ĐH.

 

Bộ GD&ĐT có nên tổ chức biên soạn SGK?

 

Theo dự thảo đề án đổi mới chương trình, SGK, việc biên soạn SGK cho chương trình mới có hai phương án: Hoặc Bộ GD&ĐT tổ chức một bộ SGK đồng thời với các tổ chức cá nhân biên soạn SGK khác; hoặc việc biên soạn SGK được giao hoàn toàn cho các tổ chức, cá nhân.

Vấn đề này nhận được hai luồng ý kiến đóng góp: một bên ủng hộ Bộ đứng ra tổ chức biên soạn một bộ SGK, bên còn lại cho rằng Bộ nên “buông”.

PGS.TS Nguyễn Thám, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Huế góp ý trong vấn đề này Bộ GD&ĐT nên tham khảo kinh nghiệm của các nước tiên tiến, theo đó cơ quan quản lý GD chỉ ban hành và quản lý chương trình đào tạo, SGK chỉ là tài liệu học tập, tác giả nào viết tốt thì người dạy – người học sử dụng.

“Tôi là người học phổ thông ở miền Nam trước năm 1975 và thấy rằng miền Nam hồi đó có rất nhiều cá nhân và tập thể viết SGK rất hay, giáo viên chọn cuốn SGK nào hay để dạy”, PGS Nguyễn Thám nói.

GS Nguyễn Khắc Phi cũng phát biểu ông không tán thành việc Bộ đứng ra làm một bộ SGK. Bộ quá nhiều việc rồi, chẳng hạn như hãy đầu tư trí tuệ – công sức để xây dựng một chương trình thật tử tế bởi đó là điều vô cùng khó! Mặt khác, việc tổ chức biên soạn SGK cũng không phải là chức năng của cơ quan quản lý GD. Còn GS Trần Đình Sử cho rằng việc Bộ đứng ra tổ chức biên soạn SGK sẽ làm nhụt chí các tác giả có ham muốn viết SGK, đặc biệt là cán bộ trẻ.

“Dẫu có đủ can đảm làm, chắc chắn họ sẽ làm việc với trạng thái e ngại khi mà cảm giác mình sẽ không lại được với Bộ!”, GS Trần Đình Sử chia sẻ.

GS Nguyễn Minh Thuyết thì đề nghị: “Theo tôi Bộ chỉ làm một số SGK các môn khoa học xã hội, còn xã hội hóa các môn khác – thậm chí có thể dịch SGK của nước ngoài để sử dụng”.

 

Nguồn: hocthenao.vn

Ý kiến bạn đọc:

Bạn hãy Đăng nhập để gửi ý kiến của mình.

Đề thi mới nhất

ĐỀ THI GIỮA KÌ I - LỚP 5

Môn Toán học - Lớp 5

xtoan78

13 lượt thi

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2017 - 424

Môn Tiếng Anh - THPT Quốc gia

Đặng Văn Vinh

9 lượt thi

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2017 - 422

Môn Tiếng Anh - THPT Quốc gia

Đặng Văn Vinh

2 lượt thi

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2017 - 417

Môn Tiếng Anh - THPT Quốc gia

Đặng Văn Vinh

1 lượt thi

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2017 - 410

Môn Tiếng Anh - THPT Quốc gia

Đặng Văn Vinh

3 lượt thi

Xem thêm